PL 2561
Thiền viện Toàn Giác - Thôn Đoàn Kết, Xã Giang Điền, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai - ĐT: 0918068719
Mới cập nhật: Hình ảnh lễ Giỗ lần thứ 34 của Sư Ông Thiện Tường tại Tổ Đình Giác Nguyên -
Lời Phật Dạy
Lời Phât dạy - Kinh Trung Bộ số 131
-- Xem tiếp --
Lời Phật Dạy
Lời Phật dạy - Kinh Pháp Cú số 183
-- Xem tiếp --
Video Clip
-- Xem tiếp --
Thập đại đệ tử
Tôn Giả Xá Lợi Phất

 XÁ LỢI PHẤT

TRÍ TUỆ ĐỆ NHẤT

1- TRƯỚC VÀ SAU ĐẢN SANH

Tại nước Ma-kiệt-đà ở Nam Ấn Độ, cách thủ đô Vương Xá khoảng hai ba dặm, có một thôn trang tên Ca-la-tý-nỏa-ca, rừng đẹp trúc cao, núi xanh sông biếc, thật là một địa phương u tịnh, và đó cũng là quê hương của ngài Xá-lợi-phất.

Xá-lợi-phất sanh trong gia đình Bà-la-môn, thân phụ Đề-xá là luận sư nổi danh trong giáo đoàn Bà-la-môn. Thân mẫu khi mang thai Ngài, trí tuệ trội vượt hơn mọi phụ nữ tầm thường (Theo truyền thuyết đó là do ảnh hưởng của thai nhi).

Em trai thân mẫu là Câu-hy-la, cũng rất giỏi nghị luận, nhưng mỗi khi cùng với bà chị đàm đạo, đều bị cạn lời bí lối, chẳng dám cầm cự phải thoái lui. Ông xấu hổ rời nhà ra đi, biết rằng đứa bé trong bụng chị mình ngày sau sẽ là một người đại trí tuệ, nếu tự mình không tiến hơn, mai sau cậu chẳng bằng cháu, thiên hạ sẽ cười cho thối óc. Do đó, ông đi khắp nơi tìm thầy học hỏi, nghiên cứu miệt mài đến nỗi móng tay ra dài mà không dám nghỉ để cắt. Người đương thời đặt cho ông danh hiệu là Trường Trảo Phạm Chí (Sau này khi Xá-lợi-phất quy y Phật, ông cũng quy y theo làm Sa-môn).

Vào năm tám tuổi, Xá-lợi-phất đã có thể giải suốt mọi thư tịch. Thời ấy, trong nước Ma-kiệt-đà, có hai anh em trưởng giả, anh tên Cát-lợi, em tên A-già-la, mở tiệc đãi đằng vua quan, thái tử, các vị luận sư… ca vũ nhạc kịch, luận cổ bàn kim. Đại hội quy định, ai ngồi theo chỗ đó, chỉ có cậu bé Xá-lợi-phất trèo lên bảo tọa của luận sư cao tột, bên cạnh không người nào dám ngồi, mà chẳng hề sợ sệt. Ban đầu, mấy ông đại luận sư cho đó là một tên thiếu niên vô tri, không thèm đếm xỉa đến, sai các đệ tử nhỏ tuổi đến thù đáp, nhưng gặp Xá-lợi-phất lời lẽ khúc chiết, nghĩa lý thích hợp, làm kinh ngạc bốn phía. Lúc ấy các đại luận sư mới khâm phục, khen ngợi rối rít, quốc vương cũng đẹp dạ, đem luôn một thôn trang phong tặng Xá-lợi-phất.

Ấu thơ tám tuổi đã xuất đầu lộ diện trong trường hợp như thế, phụ thân tuy nổi danh học giả, cũng tự cảm nhận: Thông minh tài trí của mình không bằng cậu con yêu.

2- LÃO SƯ CHÂN CHÁNH

Đến tuổi trưởng thành, người trong nước đều biết đại danh Xá-lợi-phất. Dáng người cao lớn, dung mạo thanh tú, mắt sáng như sao, tay dài quá gối, Xá-lợi-phất thừa hưởng truyền thống học giả của phụ thân nên cũng rất có phong độ học giả. Giới học thuật đương thời không ai không biết đến chàng thanh niên hậu sanh khả úy này.

Đến năm hai mươi tuổi, Xá-lợi-phất từ giã quê hương phụ mẫu, lên đường tìm sư học đạo. Ban đầu, chàng đến bái yết vị Bà-la-môn nổi danh San-xà-dạ làm thầy, nhưng học chưa được bao lâu, chàng cảm thấy học vấn của thầy không đủ đáp ứng cho sức tìm hiểu của mình, bèn tính chuyện cáo từ. Bạn đồng học lúc bấy giờ, chỉ có Mục-kiền-liên là tâm giao, Xá-lợi-phất đem ý định của mình nói cho bạn nghe, và Mục-kiền-liên cũng cảm thấy như vậy. Cả hai bèn quyết định ly khai San-xà-dạ, thành lập riêng một học đoàn, chiêu tập đồ đệ. Hai chàng tuổi trẻ yên chí rằng trên đời này không có người trí thức nào sánh kịp mình, và cũng chẳng có ai đủ tư cách làm thầy mình.

Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên tuổi tác tương đương, sức học và tư tưởng cũng gần gũi, cả hai đều có chí nguyện tìm cầu chân lý, nên tình cảm rất hòa hợp. Sức tự tu và dạy học, học giả trên toàn cõi Ấn Độ không có ai vừa mắt hai chàng.

Một ngày nọ, trên con đường đến thành Vương Xá, Xá-lợi-phất gặp một vị đệ tử Phật, Tỳ-kheo A Thị Thuyết. A Thị Thuyết là một trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên quy y Phật, Ngài đã trải qua nhiều năm khổ hạnh, đến khi nghe Phật nói pháp Tứ Đế, liền chứng Thánh quả. Ngài có thái độ trang nghiêm, đi đứng oai nghi, Xá-lợi-phất một phen thấy qua trong lòng sanh kinh ngạc, không thể ngăn nổi sự tò mò đến trước hỏi luôn:

- Xin lỗi, cho phép tôi hỏi thăm đạo giả, chẳng hay Ngài tên gì? Hiện ở đâu ?

- Đa tạ! Tôi tên A Thị Thuyết, ở Trúc Lâm tinh xá ngoài thành không xa.

- Thầy của Ngài là ai? Bình thường dạy Ngài đạo lý gì?

Xá-lợi-phất khi hỏi câu này thật là khẩu khí của một trưởng giả. A Thị Thuyết chậm rãi trả lời:

- Thầy tôi là bậc đại Thánh Thích-ca Mâu-ni xuất sanh từ dòng họ Thích. Ngài dạy về chơn lý của vũ trụ nhơn sanh, kẻ ít học như tôi không thể lãnh hội trọn vẹn, nhưng tôi còn nhớ, đạo lý của Ngài thường giảng là:

                        Các pháp do nhân duyên sanh
                        Các pháp do nhân duyên diệt.

Cũng dạy rằng: “Các hạnh vô thường, là pháp sanh diệt, sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui.” Đối với lời dạy của bậc Đạo sư, thật khó diễn tả được hết cảm kích của chúng tôi.

Xá-lợi-phất được nghe danh hiệu Phật-đà và giáo pháp của Ngài, dường như trời long đất lở, như sáng ngời mặt trời trước mắt, tất cả mối nghi ngờ về vũ trụ nhân sinh đều biến mất, chàng đứng bên đường đàm đạo với A Thị Thuyết như là bạn tri kỷ trăm năm, và sau cùng ước hẹn, sẽ đến bái phỏng đức Phật.

Xá-lợi-phất về đến nơi, Mục-kiền-liên thấy bộ dạng hân hoan của bạn, liền hỏi thăm:

- Xá-lợi-phất, có việc gì trông bạn có vẻ cao hứng đến thế?

- Mục-kiền-liên! Đây là dịp cao hứng đệ nhất trong đời tôi, thật hoan hỷ, tôi báo cho bạn biết, tôi đã tìm gặp vị Lão sư của chúng ta.

- Bạn nói gì thế, ai là người có thể làm thầy chúng ta?

- Phật-đà! Đó chính là đức Phật-đà!

Xá-lợi-phất liền đem những lời của A Thị Thuyết về đức Phật và giáo pháp, kể lại cho Mục-kiền-liên nghe, người kể, người nghe đều không ngăn được xúc động, bất giác rơi lệ.

Pháp nhân duyên, người bình thường nghe sẽ không lãnh hội được ra sao, nhưng đối với người tìm cầu chân lý như Xá-lợi-phất, thì phải ném hết những công phu tu hành từ nhiều năm nay. Có thể nói không lầm rằng người nhận thức được pháp nhân duyên mới có thể nhận thức được Phật pháp.

Ngày hôm sau, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên đem hai trăm đồ chúng, đồng đến Trúc Lâm tinh xá, quy y dưới tòa đức Phật. Đức Phật cũng rất hoan hỷ, Ngài biết rằng chân lý mình chứng ngộ đến hôm nay mới gặp đúng người có thể tiếp thọ, Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên cũng cảm thấy mình đã gặp đúng bậc minh sư.

3- GIÁM ĐỐC CÔNG TRÌNH KỲ VIÊN

Sau khi Xá-lợi-phất quy y Phật, lực lượng Tăng đoàn bắt đầu tăng thêm. Đức Phật rất tin dùng Xá-lợi-phất. Người thứ nhất vâng lãnh sứ mạng sang phương Bắc hoằng pháp, và trông coi việc xây cất Kỳ Viên tinh xá, là Xá-lợi-phất.

Trúc Lâm tinh xá nằm ở Ma-kiệt-đà, Nam Ấn Độ, còn trong thời gian Phật thành đạo hai năm đầu, ở phương Bắc không có một căn cứ để thuyết pháp. Nhân duyên kỳ ngộ, Tu-đạt trưởng giả ở thành Vương Xá nước Kiều-tát-la (Kosala) phương Bắc, nhân đến phương Nam thăm người quen, được gặp thánh nhan của Phật, liền phát tâm quy y, và phát tâm kiến lập một tinh xá ở phương Bắc cúng dường Phật để khắp rưới nước cam lồ.

Trưởng giả Tu-đạt dùng vàng ròng trải khắp mặt đất mua vườn hoa của Thái tử Kỳ-đà làm nơi kiến tạo tinh xá. Ông thỉnh Phật cử cho một người thiết kế và trông coi công việc. Đức Phật biết chính Ngài không có nhân duyên đến phương Bắc, ở đấy toàn là ngoại đạo. Đến đấy không những chỉ hướng dẫn việc xây cất tinh xá, mà còn phải hàng phục chúng ngoại đạo. Vì thế, Xá-lợi-phất cùng Tu-đạt đến thành Xá-vệ trước.

Tinh xá vừa khởi công không bao lâu, quả không lầm, ma nạn khởi lên. Nhiều nhóm ngoại đạo ganh ghét sự phát triển của Phật giáo, đến yêu cầu Tu-đạt bỏ ý định xây dựng tinh xá cúng Phật, thậm chí bảo ông đừng tín ngưỡng Phật-đà.

Tu-đạt là người đã lãnh thọ pháp ân của Phật, dù bất cứ thế nào ông cũng không nghe theo lời của ngoại đạo, họ bèn nghĩ đến việc biện luận với đệ tử Phật, ngài Xá-lợi-phất. Họ chắc rằng đánh đổ Phật giáo, để làm cho Tu-đạt tỉnh ngộ. Tu-đạt nghe qua tin này rất kinh sợ, nghĩ thầm một mình ngài Xá-lợi-phất làm sao tranh biện nổi với từng ấy ngoại đạo?

Ông rầu rĩ báo cho Xá-lợi-phất biết ý định của bọn họ, trái lại Ngài rất hoan hỷ, đây chính là cơ hội tốt nhất để Ngài thay Phật tuyên dương giáo pháp.

Đã ước định về thời gian, địa điểm mở cuộc đại hội biện luận, ngoại đạo cử mười vị luận sư danh tiếng, bên nhà Phật chỉ có một ngài Xá-lợi-phất. So sánh về lực lượng, bên Phật giáo tuy ít, nhưng một mình ngài Xá-lợi-phất có thể hạ ngàn vạn ngoại đạo. Xá-lợi-phất là đệ tử vô tỷ trong hàng đệ tử Phật, lại xuất thân từ gia đình Bà-la-môn, ông nội, phụ thân đều là những luận sư danh tiếng trong Bà-la-môn giáo, đều là học giả bậc nhất của toàn cõi Ấn Độ. Học vấn của Xá-lợi-phất đã thừa hưởng truyền thống danh giá đó, Ngài tinh thông tất cả kinh điển ngoại đạo, và hiện tại là người đắc Thánh quả. Chọn Xá-lợi-phất để tranh luận với ngoại đạo, thiệt là không còn ai hơn.

Trong trường biện luận, khỏi phải nói Xá-lợi-phất thắng lợi hoàn toàn, có một số ngoại đạo tiếp thu chân lý, đều xin nhờ Xá-lợi-phất giới thiệu, trở lại quy y bậc đại thánh. Đức Phật chỉ ngồi ở phương Nam mà ánh sáng oai đức đã chiếu trùm đến phương Bắc.

Phen này Xá-lợi-phất hướng dẫn trên cả ngàn vạn người quy y Phật, Tu-đạt đến lúc này mới nở lỗ mũi, càng khâm phục Xá-lợi-phất, càng cảm kích oai đức của Thế Tôn.

Việc xây cất Kỳ Viên tiến rất mau, theo thiết kế của ngài Xá-lợi-phất, trù liệu có mười sáu giảng đường dành cho đại hội giảng kinh, lại có mười sáu tiểu đường, chia ra làm phòng ngủ, nhà khám bệnh, nhà tắm, nhà kho… Ngoài ra còn có sân vận động, ao tắm, suối nước giặt giũ…

Lúc tinh xá sắp hoàn thành, Xá-lợi-phất nói với Tu-đạt:

- Trưởng giả! Ông nhìn xem, trên trời xuất hiện những gì kia?

- Thưa Tôn giả! Con chẳng thấy có gì cả – Tu-đạt thất vọng trả lời.

- Chẳng có gì lạ, mắt thường không thể thấy được những biểu hiện, bây giờ ông nương sức thiên nhãn của tôi, xem lại một lần nữa.

- A! Tu-đạt vui mừng kêu lên: - Thưa Tôn giả con thấy có nhiều cung điện trang nghiêm rực rỡ.

- Đó là cung điện của sáu cõi trời Dục giới, vì ông cúng dường tinh xá cho Phật thuyết pháp, tinh xá tuy chưa hoàn thành, nhưng cung điện của ông trên sáu cõi trời đã sớm dành sẵn cho ông.

- Nhưng, trong sáu cõi trời ấy nhiều những cung điện đến thế, con phải ở cõi trời nào mới tốt?

- Cõi trời Đao Lợi thọ mạng rất lâu, biết tu hành, siêng năng trong Phật đạo, khó đọa lạc. Xá-lợi-phất giải thích cho Tu-đạt nghe.

- Vậy sau này con nhất định nguyện về cõi Đao Lợi.

Khi Tu-đạt nói xong, những cung điện kia dần dần ẩn mất, chỉ có cung điện của cõi trời Đao Lợi sáng rực đẹp đẽ hiện ở không trung. Tu-đạt thấy rồi rất mừng rỡ, trong cuộc bình sanh chưa bao giờ được như vậy.

4- KHÔNG THOÁI CHUYỂN TÂM ĐẠI THỪA

Nhân chuyện trưởng giả Tu-đạt cúng dường tinh xá cho Phật, nhờ thần lực thiên nhãn của ngài Xá-lợi-phất thấy được cung điện cõi trời. Về đôi mắt của tôn giả, trong thời quá khứ tu nhân sáu mươi kiếp về trước khi Ngài tu khổ hạnh, có một sự kiện liên quan đến đôi mắt ấy.

Xá-lợi-phất phát tâm tu đạo Bồ-tát hành hạnh bố thí của Đại thừa, Ngài không những nguyện đem nhà cửa, ruộng vườn, tài sản… những vật sở hữu nơi thân vui lòng bố thí, tối hậu cho đến thân thể, mạng sống, cũng không tiếc một mảy may, nguyện bố thí cho người.

Phát tâm nguyện chơn thiết như vậy, làm kinh động trời đất, bèn có một Thiên nhơn đến thử đạo tâm của Ngài.

Thiên nhơn biến thành một thanh niên khoảng hai mươi tuổi, ngồi chờ trên đường Xá-lợi-phất thường đi qua. Thanh niên vừa thấy Ngài đi đến bèn lớn tiếng khóc rống, Xá-lợi-phất thấy vậy bất nhẫn, đến trước mặt an ủi hỏi han:

- Úy da! Này cậu kia, vì sao ngồi đây khóc lóc trông thương tâm như vậy?

- Ông đừng hỏi lôi thôi, nói cho ông nghe cũng chẳng được gì.

- Tôi là Sa-môn học đạo, phát nguyện cứu giúp khổ nạn cho chúng sanh. Anh cần gì nếu tôi có sẵn, tôi sẽ giúp anh mãn nguyện.

- Ông chẳng thể giúp tôi được đâu, tôi khóc đây chẳng phải vì thiếu tài vật thế gian, mà vì mẹ tôi mang bệnh không thể trị được, thầy thuốc nói cần phải có con mắt của người tu để hòa thuốc, bệnh mẹ tôi mới lành. Con mắt của người đời đã khó kiếm, con mắt của người tu làm sao chịu cho tôi? Nghĩ đến mẹ già rên rỉ trên giường bệnh chờ thuốc, tôi bất chợt đau đớn mà phát khóc đó ạ!

Chuyện đó đâu khó gì, tôi vừa nói với anh, tôi là Sa-môn kia mà, tôi sẽ bố thí cho anh một con mắt để cứu bệnh nan y cho mẹ anh.

Thanh niên vui mừng nhảy lên.

- Ý! Ngài bố thí cho tôi một con mắt?

- Tất cả tài sản của tôi đều bố thí hết, chính lúc muốn tiến một bước trên hạnh Đại thừa tôi nguyện đem thân ra bố thí. Đang khổ sở vì chẳng gặp ai nhận, nay gặp lúc anh đang cần, tôi được mãn nguyện tâm đạo, tôi rất vui mừng cảm ơn anh, anh nên tìm cách lấy con mắt của tôi đi.

Sáu mươi tiểu kiếp trước trong tâm thầy tu Xá-lợi-phất nghĩ rằng: “Ta có hai con mắt, bố thí cho người một con, còn một con mắt cũng đủ thấy đường, đối với mình cũng chẳng trở ngại chi”.

Ngài bảo thanh niên tìm cách lấy con mắt đi, thanh niên không chịu, nói:

- Thiệt chẳng nên, làm sao tôi dám cưỡng đoạt con mắt của ông? Như lời ông phát nguyện thì ông tự móc mắt ra mà cho tôi.

Xá-lợi-phất nghe nói có lý, liền quyết tâm, dũng mãnh chịu đau, lấy tay móc ngay con mắt bên trái ra, đưa tận tay thanh niên và nói:

- Đa tạ anh đã giúp tôi thành tựu tâm nguyện, anh hãy cầm lấy!

Thanh niên cầm con mắt la lên:

- Hỏng bét! Ai biểu ông móc con mắt trái ra đây. Bệnh của mẹ tôi, phải dùng con mắt bên phải mới tốt.

Xá-lợi-phất nghe nói, thiệt là hỏng tuốt, Ngài tự trách mình không hỏi kỹ rồi hãy móc mắt, bây giờ làm sao? Cho con mắt bên trái, còn con mắt bên phải để xài, nếu cho luôn con mắt bên phải sẽ không thấy gì ráo. Thật đáng kính phục, Xá-lợi-phất không bao giờ trách người, Ngài nghĩ tiếp, phát tâm phát cho triệt để, cứu người cũng cứu triệt để, khó gặp được người nhận thí để thành tựu đạo hạnh của mình, nên móc con mắt bên phải cho người mới xong. Xá-lợi-phất nghĩ như vậy rồi bèn an ủi thanh niên:

- Anh đừng nóng ruột, vừa rồi tại tôi hấp tấp không kịp hỏi nên móc lộn con mắt, bây giờ tôi biết rằng, thân thể này là hư huyễn vô thường. Tôi còn con mắt bên phải, tôi xin móc luôn cho anh làm thuốc chữa bệnh cho mẹ anh.

Xá-lợi-phất nói xong, lại quyết tâm một phen nữa, mạnh dạn chịu đau móc luôn con mắt bên phải cho thanh niên nọ.

Thanh niên cầm con mắt Xá-lợi-phất không thèm nói một lời cám ơn, đưa con mắt lên ngửi một cái, quăng luôn xuống đất, mắng:

- Ông là thầy tu cái gì? Con mắt hôi rình khó ngửi, làm sao nấu thuốc cho mẹ tôi dùng!

Thanh niên mắng xong còn lấy chân chà lên con mắt của Xá-lợi-phất.

Tuy không thấy, nhưng lỗ tai còn thính, Ngài nghe lời thanh niên mắng mỏ, nghe tiếng chân thanh niên chà đạp con mắt của mình, Ngài thở dài, nghĩ thầm: “Chúng sanh khó độ, tâm Bồ-tát khó phát, ta chẳng dám vọng tưởng tiến tu Đại thừa, ta nên quay lại chú trọng việc tu hành tự lợi thôi!”

Trong tâm Ngài vừa khởi ý niệm ấy, tức thời trên không trung xuất hiện rất nhiều Thiên nhơn nói với Xá-lợi-phất:

- Tu đạo giả! Ngài đừng chán nản, người thanh niên lúc nãy là do Thiên nhơn chúng tôi đến thử thách Bồ-tát hạnh của Ngài, Ngài phải dũng mãnh tinh tấn lên, theo như tâm nguyện mình mà tu học.

Xá-lợi-phất nghe nói rất xấu hổ, tâm Bồ-tát lợi tha khởi phát trở lại, ngay lúc ấy thành tựu được đạo tâm bất thoái.

Từ sáu mươi tiểu kiếp đến nay, Xá-lợi-phất không ngừng học đạo, đời này được gặp Phật, chứng Thánh quả, do đó được Thiên nhãn thông.

5- THỌ THỨC ĂN BẤT TỊNH

Xá-lợi-phất là thủ tọa trong hàng đệ tử Phật, đại trí đại tuệ, thần lực siêu quần, Ngài đối với đức Phật thật là bách y bách thuận, đối với lời chỉ dạy của Phật chưa từng cãi lời.

Đức Phật đối với các đệ tử, tín nhiệm nhất là Xá-lợi-phất, sau ngày thành đạo, lần trở về cố hương Ca-tỳ-la thứ nhất, gặp La-hầu-la muốn xuất gia, đức Phật bảo ông bái Xá-lợi-phất làm thân giáo sư, theo Xá-lợi-phất thọ giới Sa-di.

Một hôm, Xá-lợi-phất dắt Sa-di La-hầu-la đi khất thực trở về, đức Phật thấy vẻ mặt của La-hầu-la không vui, biết trong tâm ông có chuyện bất bình, bèn gọi ông đến gần, hỏi ông trong lòng bất mãn việc gì.

Sa-di La-hầu-la cúi đầu tỏ ý không vui, giọng nói bất mãn:

- Phật-đà! Con là Sa-di, đáng lẽ không nên nói lỗi bậc Thượng tọa, nhưng nếu không nói thì không ai biết hoàn cảnh của Sa-di chúng con.

- Sự việc như thế nào? Ông giải thích ta nghe.

- Phật-đà! Các vị Thượng tọa và Trung tọa dẫn chúng con ra ngoài thành khất thực, tín chúng cúng dường các vị ấy toàn những món ngon thượng đẳng, còn hàng Sa-di sơ học chúng con, chỉ bố thí toàn cơm trộn xác mè, rau rừng lộn lạo. Thân thể con người đối với việc ăn uống đâu có phân biệt tuổi tác và giới hạnh, đều có nhu cầu giống nhau. Các vị trưởng lão ngoài sự thọ dụng của riêng mình, không có lòng từ bi đoái hoài đến chúng con, khiến tín chúng cúng dường sanh tâm phân biệt.

- Việc ấy đâu đáng gì để nói, chỉ có chút tiểu sự mà ông không thể nhẫn!

- Phật-đà! Xin Ngài từ bi đừng trách mắng chúng con, được ăn dầu mè và tô lạc mới có thể tăng trưởng khí lực, thân thể khỏe mạnh mới có thể an tâm tinh tấn tu hành, còn chúng con mỗi ngày ăn xác mè và rau rừng, dinh dưỡng không đủ, lâu ngày thân thể mỏi mệt, thường chẳng có thể chuyên tâm tu trì.

Đức Phật nghe La-hầu-la nói, cũng công nhận là đúng, tuy nhiên Ngài cũng răn dạy:

- La-hầu-la! Ông rời hoàng cung gia nhập Tăng đoàn là vì thọ sự hảo cúng dường phải không?

- Thưa không! Bạch Thế Tôn, con vào Tăng đoàn là vì để học đạo tu hành.

- Vậy thì ông mới nói chuyện gì đó? Như nếu nghĩ đến việc tu hành, thì khi thọ nhận của tín thí một hạt mè, một hạt cơm cũng thấy là đầy đủ. Ông đi mà lo tu hành, đừng quá quan tâm đến việc ăn uống.

Tuy dạy bảo La-hầu-la như thế, nhưng Ngài cũng biết tín chúng khi cúng dường có khởi tâm phân biệt, trong lòng không vui. Ngài kêu Xá-lợi-phất đến sau khi bảo La-hầu-la lui ra, hỏi:

- Xá-lợi-phất, hôm nay ông thọ đồ ăn bất tịnh, ông biết không?

Xá-lợi-phất nghe nói kinh hãi, lập tức cho những thức ăn hôm nay ói hết ra đất và bạch Phật:

- Thưa Thế Tôn! Từ lúc con quy y với Ngài, con vẫn y pháp khất thực của Phật mà xin ăn, con không hề trái phạm mà xin thức ăn bất tịnh.

Phật biết rõ tâm Xá-lợi-phất, giải thích:

- Việc khất thực của riêng ông, ta biết là hoàn toàn không trái phép, nhưng Tăng đoàn có lục hòa, không nên chỉ biết riêng mình. Về pháp chế nên bình đẳng, lợi ích cũng đều nhau, làm bậc trưởng lão nên thường thương tưởng để ý đến các Tỳ-kheo nhỏ tuổi và Sa-di, khi khất thực nên chú ý đến họ.

Đức Phật dạy xong, Xá-lợi-phất đối với lời dạy không có một chút bất bình, đều cảm kích lãnh thọ.

6- KHIẾN KẺ PHẢN BỘI KINH SỢ

Trong hàng đệ tử Phật, có một Tỳ-kheo tên Đề-bà-đạt-đa, ông ta vốn là đường đệ của Phật khi Ngài còn làm vương tử, sau khi theo Phật xuất gia được mười năm, bị ma quỷ làm mê mờ tâm trí, bèn phản lại đức Phật, tách rời khỏi Tăng đoàn.

Một hôm, sau khi đức Phật đi khất thực về, cùng các đệ tử nghỉ ngơi tại giảng đường, Đề-bà-đạt-đa ngang nhiên dẫn đầu nhóm bè đảng đến yêu cầu Phật nhường quyền lãnh đạo Tăng đoàn cho ông.

Phật chẳng hề trả lời, mặc cho Đề-bà-đạt-đa la lối om sòm, Phật vẫn im lặng nhường lời, Đề-bà-đạt-đa lại kêu gọi các Tỳ-kheo đi theo ông. A-nan là bào đệ của ông, lúc ấy mới nói:

- Xin anh đừng hồ đồ, anh là huynh trưởng của tôi, tôi nghĩ đến anh tạo tội nặng như thế, tương lai sẽ bị đọa mà cảm thấy ghê sợ. Đức Phật là bậc đại từ bi, con người như anh không thể sánh với Ngài. Nếu hôm nay có mặt Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên ở đây, chắc chắn không để cho anh tung hoành như vậy.

Sau đó, Đề-bà-đạt-đa dùng các phương pháp uy hiếp, dùng lợi lộc dụ dỗ các đệ tử Phật, có một số người lòng tin không vững, vì tham mê sự cúng dường nồng hậu của vua A-xà-thế đối với Đề-bà, đổi lòng đi theo ông.

Ngày nọ, đang khi các phản đồ cùng với số đệ tử của Đề-bà-đạt-đa nhóm họp một chỗ, Xá-lợi-phất uy nghiêm đi đến và hỏi:

- Này quý vị, tôi hỏi quý vị một câu, quý vị xuất gia tu đạo là vì thọ cúng dường? Hay vì tu đạo?

Đại chúng đồng đáp:

- Vì mục đích tu đạo, vì muốn thoát ly sanh tử.

- Nếu như vậy, các ông không tu theo chánh đạo của đức Phật, lại để cho lòng tin thuần khiết tôn quý của mình bị lay động vì chút vật chất cỏn con, các ông phải mau mau phản tỉnh giác ngộ mới được.

Khi Xá-lợi-phất nói lời ấy, từ thân mình phóng ra muôn đạo kim quang, trong đó hiển hiện từ dung của Phật, các Tỳ-kheo phản bội và môn đồ của Đề-bà thấy rồi đều quỳ xuống sám hối, Xá-lợi-phất lại dẫn họ trở về Tăng đoàn.

Đức Phật từ đó càng tin cậy Xá-lợi-phất, Ngài có công lớn trong sự hòa hợp Tăng đoàn. Đề-bà-đạt-đa không sợ Phật, mà rất sợ Xá-lợi-phất.

7- LÃNH THỌ ĐẠO CỨU KHỔ

Khi đức Phật ở Kỳ Viên tinh xá, thương cho chúng sanh trôi nổi trong biển khổ sanh tử không chỗ nương cậy, nghĩ đến mọi loài luân hồi trong sáu nẻo không có một nơi trở về an vui, hạnh phúc, Ngài muốn nói lên pháp môn cứu độ nhưng sợ hạng căn cơ thấp kém nhỏ hẹp không thể tin tưởng thọ trì. Sau cùng, chọn lựa cặn kẽ, Ngài quyết định: Dùng trí tuệ của Xá-lợi-phất chắc chắn sẽ thông hiểu được cõi Cực lạc trang nghiêm thanh tịnh, chắc chắn có thể lãnh thọ tín ngưỡng Phật A-di-đà. Trong chúng hội tuy có đủ ba hạng căn cơ thượng, trung, hạ nhưng đức Phật chọn Xá-lợi-phất làm đương cơ để nói lên một pháp môn dễ thực hành mà sáng tỏ. Đức Phật dạy: “Xá-lợi-phất! Ở phương Tây, cách thế giới của ta rất xa xôi, có một thế giới tên là thế giới Cực Lạc. Ở đó có vị giáo chủ là đức Phật A-di-đà đang thuyết pháp.

Xá-lợi-phất! Thế giới ấy tại sao gọi là thế giới Cực Lạc? Vì thế giới ấy không giống thế giới Ta-bà này có nhiều xấu xa, nhỏ hẹp, đau khổ. Chúng sanh ở quốc độ đó chỉ có đầy đủ không hề thiếu thốn, chỉ có an vui không hề đau khổ, cho nên gọi là thế giới Cực Lạc. Cõi ấy cảnh vật bằng phẳng, sạch sẽ, giàu có. Người trong nước về phần ăn mặc, đi đứng, thuốc men… đều tùy theo nhu cầu mà đầy đủ tiện nghi. Những người ấy đều là các bậc thượng thiện ở chung một cõi. Phong cảnh như một rừng hoa tuyệt mỹ, kiến trúc như đô thị nguy nga.

Xá-lợi-phất! Chỉ cần nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, gieo trồng nhân duyên phước đức, tu học ba mươi bảy phẩm trợ đạo, tương lai sẽ được Phật A-di-đà tiếp dẫn, được vãng sinh về nước của Ngài.

Xá-lợi-phất! Chúng sanh ở thế giới Ta bà nếu muốn thoát khỏi khổ não trong sáu đường luân hồi, chỉ nên phát nguyện cầu được sanh về cõi ấy. Ta từng bảo A-nan lễ bái Phật A-di-đà, ông ấy cũng từng được thấy đức Phật kia phóng hào quang lớn, các ông nên tin pháp môn khó tin mà ta vừa nói, đó thật là con đường cứu khổ.”

Đức Phật nói xong, Đại trí Xá-lợi-phất không hề có một niệm hoài nghi. Tôn giả và đại chúng đều tin sâu pháp môn Tịnh độ của Phật A-di-đà.

8- ĐỨC HẠNH NHẪN VÀ NHƯỜNG

Xá-lợi-phất đối với giáo pháp của đức Phật luôn tôn kính và phụng trì, đối với việc bố giáo chưa từng thoái chí, chỉ đối với riêng mình thì vinh nhục khen chê đều chẳng lưu tâm, thảy đều nhường nhịn.

Có một hôm, đức Phật dẫn đại chúng đi bố giáo và trở về thành Xá-vệ, lúc đó nhóm đồ đệ của Lục Quần Tỳ-kheo, đã nhanh chân đến Kỳ Hoàn tinh xá trước đức Phật và đại chúng, chiếm luôn những chỗ nghỉ ngơi tốt đẹp, ngay cả cư thất của Xá-lợi-phất cũng bị chiếm. Họ lại nói: Chỗ này là chỗ của thầy chúng ta, chỗ này là chỗ của chúng ta.

Xá-lợi-phất về sau đức Phật, ngày đó vì hơi chậm chân, khi về đến tinh xá thấy chỗ của mình bị Lục Quần Tỳ-kheo đã ở trước, không còn cách nào khác, Tôn giả bèn ra gốc cây ngồi thiền qua đêm. Sáng sớm, đức Phật dậy, nghe dưới gốc cây có tiếng ho hen, Ngài bèn hỏi:

- Ai ở đó? Sao không tịnh tọa trong phòng?

Xá-lợi-phất thưa:

- Bạch Thế Tôn! Con là Xá-lợi-phất, vì hôm qua có rất nhiều Tỳ-kheo theo Phật về tinh xá, tất cả phòng đều có người, con tạm ngủ dưới gốc cây một đêm cũng không sao.

Đức Phật nghe xong rất khen đức tốt nhẫn nhượng của Tôn giả, nhưng nhóm các Tỳ-kheo lại dạy:

- Các Tỳ-kheo! Ta hỏi các ông, trong giáo đoàn ta, người nào xứng đáng được thọ lãnh sàng tòa thượng đẳng, nước thượng đẳng, ẩm thực thượng đẳng?

Các Tỳ-kheo ồn ào bày tỏ ý kiến:

- Đó là Tỳ-kheo xuất thân từ dòng vua chúa!

- Đó là Tỳ-kheo xuất thân từ dòng giáo sĩ!

- Tỳ-kheo nào tu hành và có khả năng bố giáo mới xứng đáng được sàng tòa hạng nhất, nước và thực phẩm hạng nhất!

Sau khi nghe các câu trả lời lung tung, đức Phật nghiêm nghị bảo:

- Các Tỳ-kheo! Thuở xưa tại núi Tuyết có chim chá cô, con khỉ, con voi đồng ở chung. Tuy chúng là bằng hữu, nhưng vì thân thể, sức lực và trí khôn của mỗi con không đồng nhau, nên mạnh ai nấy tự cao tự đại, không tôn kính lẫn nhau. Sau biết như vậy là sai trái, mới cung kính và nghe lời răn dạy của loài lớn tuổi, đến khi thân hoại mạng chung, chúng đều sanh vào đường lành.

Các Tỳ-kheo! Các ông phải tôn kính bậc niên lão về pháp hạnh, hiện tại được người khen ngợi, về sau mới được sanh chỗ lành. Này các Tỳ-kheo! Trong giáo pháp ta không có giai cấp cao thấp, nhưng có bậc trưởng lão về pháp lạp và giới lạp, các ông phải cung kính, phụng sự, lễ bái. Các bậc trưởng lão ấy đáng được thọ sàng tòa đệ nhất, nước và thực phẩm đệ nhất .

Đức Phật nói như thế, đại chúng đều hiểu ý, Xá-lợi-phất rất cảm kích, đại chúng cũng rất cảm kích.

9- KHEN MỘT CÁI CHẾT ĐẸP

Xá-lợi-phất tuy là bậc trưởng lão chứng Thánh quả nhưng đối với người nữ tu hành thành tựu, cũng rất tôn trọng.

Ngày nọ, Tôn giả đang ngồi thiền trong một khu rừng gần thành Vương Xá, đang lúc buông hết để nhập chánh định, bỗng nghe Tỳ-kheo ni Ưu-ba-tiên-na ngồi thiền trong hang động đối diện lớn tiếng gọi Ngài, Ngài bước đến thì Ưu-ba-tiên-na nói:

- Thưa Tôn giả! Khi tôi đang tọa thiền, trên thân mình bỗng chạm nhằm vật gì, ban đầu tôi không lưu ý, sau mới biết là một loài rắn độc. Tôi đã bị nó cắn, thế nào cũng chết. Bây giờ thừa lúc chất độc chưa hoành hành, xin Ngài từ bi vì tôi tìm cách mời đại chúng đến cho tôi được cáo biệt!

Khi nói câu ấy, Ưu-ba-tiên-na không tỏ một chút gì kinh sợ, như là chẳng có việc gì xảy ra.

- Ở đây vừa xảy ra việc đó sao? Ta xem sắc mặt cô không có gì biến đổi. Nếu như bị rắn cắn, nhất định cô sẽ biến sắc.

Ban đầu Xá-lợi-phất cho là không có việc gì nên nói như thế. Ưu-ba-tiên-na trầm tĩnh đáp:

- Bạch tôn giả! Thân người là do tứ đại, ngũ uẩn hư vọng mà thành, không có chủ tể, vốn là vô thường, vốn là không. Tôi đã chứng được đạo lý ấy, độc xà làm sao cắn được cái “không”?

- Cô nói rất đúng, cô đã đến trình độ thoát khỏi mọi đau đớn của thân thể, cô dùng tuệ mạng của mình mà giữ gìn sắc mặt không biến đổi.

Xá-lợi-phất khen ngợi Ưu-ba-tiên-na và thông tri cho các vị Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni tu tập gần đó, đem Ưu-ba-tiên-na ra khỏi động, nọc độc mới dần dần xâm nhập khắp người. Ưu-ba-tiên-na vô sự nhập Niết-bàn. Thấy được bậc giải thoát như thế, đại chúng rất tán thán, Xá-lợi-phất nói:

- Người tu hành điều tâm, tấn nhập Niết-bàn, đối với cái chết của thân mình, coi như bỏ một cái bát độc, như bệnh nặng được lành. Có cầu ắt có báo đáp, có chí nguyện nhất định thành, sắp chết không đổi sắc, đó là dùng mắt trí tuệ mà xem tướng thế gian, ra khỏi nhà lửa, thật là đẹp vô cùng.

Lời ngài Xá-lợi-phất khen Ưu-ba-tiên-na, cũng vốn là phương pháp quán sát của Phật giáo đối với chuyện tử sinh. Chuyện ấy trong con mắt người tu hành, xem giống như một đám mây qua.

10- LÒNG KHOAN DUNG RỘNG RÃI

Tuổi tác của Xá-lợi-phất tùy theo vô thường năm tháng gia tăng, Ngài đến lúc là một bậc cao niên tám mươi tuổi. Năm ấy, sau mùa an cư ở Kỳ Viên, vì việc hoằng pháp độ sanh, Ngài không nề tuổi già, không từ lao khổ, thỉnh cầu đức Phật cho phép Ngài đi du phương hóa đạo. Phật hứa khả và rất khen ngợi tinh thần vì người, vì giáo lý của Xá-lợi-phất.

Tôn giả rời tinh xá không bao lâu, có một Tỳ-kheo đến bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Xá-lợi-phất đi vân du hôm nay không phải vì tuyên dương Phật pháp, mà vì ông ấy đã làm nhục con, gặp mặt con thấy hổ thẹn muốn tránh mặt nên mới kiếm chuyện đi phương khác.

Đức Phật không thích kẻ phỉ báng người vắng mặt, nghe xong lập tức sai người mời Xá-lợi-phất trở lại, và ở trước đại chúng, Phật nghiêm nghị hỏi Xá-lợi-phất:

- Xá-lợi-phất, sau khi ông đi không lâu, có một Tỳ-kheo đến mách với ta rằng ông đã khi dể, nhục mạ ông ấy, có thật vậy không?

Xá-lợi-phất ôn hòa cung kính thưa:

- Bạch Thế Tôn! Từ khi con theo Ngài đến nay, nay là gần tám mươi tuổi, con nhớ con chưa từng sát hại sinh mạng, chưa hề nói lời hư vọng, chỉ trừ khi vì muốn tuyên dương chân lý, cũng chưa từng nói chuyện riêng tư lợi hại được mất của người, cùng người bàn tán tốt xấu. Hôm nay là ngày rốt sau của an cư, trong ba tháng qua, mỗi ngày con đều sám hối, không mất chánh niệm, tâm con trong lặng, không có một vẻ bất bình, con làm sao khinh thị người khác được ư?

Bạch Thế Tôn! Đất bùn hay nhẫn nhục, bất cứ vật gì nhơ uế đổ lên, đất không cự tuyệt. Phẩn tiểu, máu mủ, đờm dãi đất đều cam thọ cũng như kẹo ngon. Tâm con hôm nay bộc bạch trước đức Thế Tôn, nguyện như sức nhẫn nhục của đại địa, nguyện không trái nghịch ý người.

Dòng nước thanh tịnh, không kể vật sạch dơ hay cũ mới đều dùng nước để rửa sạch. Tâm con không yêu ghét, cũng như dòng nước.

B

Design by NINA Co., Ltd