PL 2564
Thiền viện Toàn Giác - Thôn Đoàn Kết, Xã Giang Điền, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai - ĐT: 0918068719
Mới cập nhật: Hình ảnh lễ Giỗ lần thứ 34 của Sư Ông Thiện Tường tại Tổ Đình Giác Nguyên -
Lời Phật Dạy
Lời Phât dạy - Kinh Trung Bộ số 131
-- Xem tiếp --
Lời Phật Dạy
Lời Phật dạy - Kinh Pháp Cú số 183
-- Xem tiếp --
Video Clip
-- Xem tiếp --
Chi tiết tin

Tìm hiểu về Bát chánh đạo

 

Tìm hiểu về Bát chánh đạo

                                                                                              

                 Sau khi thành đạo, Đức Phật Thích-ca đã thuyết pháp ròng rã 49 năm nhằm dẫn dắt chúng sanh hướng về bờ giác. Những cống hiến vô cùng quý báu và to lớn của Đức Phật là đã để lại cho nhân loại một hệ thống giáo lý đồ sộ với Tam Tạng Kinh Điển, giúp con người nương theo đó mà hành trì để có được sự an lạc, giải thoát. Ngài đã dạy giáo pháp tu học theo những cách khác nhau và bằng những ngôn từ khác nhau cho những người khác nhau, theo giai đoạn phát triển của họ, nhưng bản chất của ngàn lời thuyết giảng ở khắp nơi trong kinh điển Phật giáo đều được tìm thấy không ngoài Bát chánh đạo. Vậy Bát chánh đạo là gì? Áp dụng trong tu tập như thế nào? Đó là nội dung của bài viết dưới đây.

 

 

 

1. Bát Chánh Đạo là gì?

             Bát chánh đạo (Hán cổ: 八正道, tiếng Phạn: āryāṣṭāṅgamārga་), là con đường tám nhánh để giải thoát hết thảy các lậu hoặc, là giáo lý căn bản của Ðạo đế trong Tứ thánh đế.

 

Trong Tương ưng bộ kinh, thiên Ðại Phẩm, phần Tương ưng Sự Thật, phẩm Chuyển Pháp Luân tr.1059, có nêu lên bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi đã thành đạo, thuyết giảng cho 5 người bạn đồng tu khổ hạnh là Kondanna (Kiều Trần Như), Phật dạy như sau:

“…phương pháp hành trì tu tập hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết-bàn chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”

 

Lại nữa, Phật dạy như sau:

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn
Thánh đạo Tám ngành... thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn
(Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN,  tr.852)

“Này các Ty-kheo, Như Lai cũng lại như thế, khéo quán sát đời này đời sau, quán sát biển sanh tử, con đường của Ma. Tự đem Bát chánh đạo để vượt qua nạn sanh tử, lại dùng đạo này để độ người chưa được độ.” (Tăng nhất A hàm, ĐTKVN,  tr.767)

 

Bát chánh đạo đã được Đức Phật giới thiệu và định nghĩa một cách rõ ràng  trong rất nhiều bài kinh thuộc hệ thống Nikaya, đặc biệt trong Trung bộ kinh, bài kinh số 141 (Saccavibhanga Sutta), tr.768 và Kinh Đại Niệm Xứ, bài kinh số 22 của Trường bộ kinh, tr.292 có giải thích một cách chi tiết về Bát chánh đạo như sau:

“Thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế. Ðó là bát chi Thánh đạo, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng,  Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

 

Thế nào là Chánh tri kiến? Tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Như vậy gọi là Chánh tri kiến.

Thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Như vậy gọi là Chánh tư duy.

 

Thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Như vậy gọi là Chánh ngữ.

 

Thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Như vậy gọi là Chánh nghiệp.

 

Thế nào là Chánh mạng? Ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Như vậy gọi là Chánh mạng.

 

Thế nào là Chánh tinh tấn? Ở đây, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Như vậy gọi là Chánh tinh tấn.

 

Thế nào là Chánh niệm? Ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Như vậy gọi là Chánh niệm.

 

Thế nào là Chánh định? Ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy gọi là Chánh định”.

 

Bát chánh đạo được xem là Trung đạo vì thực hành Bát chánh đạo, hành giả vừa xa lánh đời sống dục lạc vừa tránh xa đời sống khổ hạnh ép xác, tức là không nghiêng về hai thái cực của lợi dưỡng và khổ hạnh. Nói cách khác, Bát chánh đạo tránh xa tất cả các cực đoan trong các cách ứng xử ở đời và trong các quan điểm.

 

Bát chánh đạo là con đường để giải thoát hết thảy các lậu hoặc, là con đường mà Đức Phật đã thực chứng và đem kinh nghiệm thực chứng này dạy lại cho chúng sanh, nên người học Phật cần phải nắm vững các quy định của Đức Phật về Bát chánh đạo và phải xem đây như là kim chỉ nam để áp dụng trong việc tu tập hành trì trên con đường hướng về Bảo Sở. Vậy thực hành Bát chánh đạo nên bắt đầu từ chi phần nào và làm sao để biết ta đang đứng ở đâu, cách Bảo Sở bao xa. Dĩ nhiên rằng đối với người tu Phật thì không nên mong cầu quả vị hay sự chứng đắc; chỉ cần nhiệt tâm, tinh tấn, vững lòng tin làm theo những gì Phật dạy thì tất nhiên sẽ có sự thành tựu, thậm chí còn thành tựu viên mãn. Tuy nhiên, người tu Phật cũng cần phải có đủ trí tuệ để biết ta đang đứng ở đâu, cách Bảo Sở bao xa; những gì ta đã làm được; những gì ta còn vướng mắc, tại sao lại vướng mắc và ta sẽ giải quyết những vướng mắc này như thế nào. Ngược lại, nếu người tu Phật không biết rõ về con đường mình đang đi, thì dù cho có đi, đi mãi cũng không bao giờ được viên mãn.

 

Cũng gống như một người lái một con thuyền nhỏ vượt qua đại dương sanh tử mênh mông vô tận, nhưng lại không có la-bàn, không hiểu gì về sóng gió, không biết rõ trên biển có những quái thú gì, những chướng ngại nào, lại càng không biết trang bị cho mình những chiếc phao giới luật, thì dù người ấy có đi nhưng không bao giờ đến được bờ bên kia. Cũng vậy, người tu học Phật mà không rõ những lời dạy của Phật; không thực hành theo lời Phật thì dù cho có tu đến ngàn kiếp cũng chỉ uổng phí mà thôi.

 

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cần phải đối chiếu Bát chánh đạo với Tam vô lậu học, với các bước để thành tựu của một vị Sa môn và với việc đoạn trừ 10 kiết sử.

 

(1) Bát chánh đạo với Tam vô lậu học

               Tam vô lậu học là ba pháp học tập để dẫn đến đời sống vô lậu, tức là không bị rơi vào sinh tử luân hồi. Đó là giới định tuệ.

 

Tam vô lậu học cũng được Đức Phật dạy rất nhiều trong các kinh thuộc hệ thống kinh nguyên thủy Nikaya và Ngài cũng khẳng định Tam vô lậu học là con đường mà Ngài đã thành tựu đạo quả:

“Giới, định và trí tuệ,

Con đường hướng chánh giác.

Ta tu tập hạnh ấy,

Ðạt được tối thắng tịnh” (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.102)

 

Từ những định nghĩa trên về Bát chánh đạo, nếu đối chiếu với Tam vô lậu học, thì Chánh kiến và Chánh tư duy được xem là trí tuệ; Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, được xem là giới; Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định được xem là định. (Trung bộ kinh, ĐTKVN, tr.230)

 

Nếu như 3 mặt trong Tam vô lậucó mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tương quan, tương duyên và dung nhiếp lẫn nhau, nghĩa là trong giới đã có định và tuệ hay trong định đã có giới và tuệ, còn trong tuệ đã có giới và định; thì 8 chi phần của Bát chánh đạo cũng có mối tương quan mật thiết với nhau, trong cái này đã bao hàm cái kia và trong cái kia đã chứa đựng cái này. Đó chính là khái niệm tương quan, tương duyên trong triết lý Duyên sinh của Phật giáo. Ví dụ như Chánh kiến là chi phần đầu tiên của Bát chánh đạo thuộc tuệ học, nhưng trong Chánh kiến cũng phải có sự hỗ trợ của 7 chi phần còn lại, bởi lẽ muốn có cái nhìn như thị đối với các pháp thì cần phải có Chánh niệm, Chánh định, Chánh tinh tấn. Muốn có Chánh niệm, Chánh định thì phải có Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.

 

Thật ra, Bát chánh đạo đối với Tam vô lậu học cả