PL 2561
Thiền viện Toàn Giác - Thôn Đoàn Kết, Xã Giang Điền, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai - ĐT: 0918068719
Mới cập nhật: Hình ảnh lễ Giỗ lần thứ 34 của Sư Ông Thiện Tường tại Tổ Đình Giác Nguyên -
Lời Phật Dạy
Lời Phât dạy - Kinh Trung Bộ số 131
-- Xem tiếp --
Lời Phật Dạy
Lời Phật dạy - Kinh Pháp Cú số 183
-- Xem tiếp --
Video Clip
-- Xem tiếp --
Chi tiết tin

Tìm hiểu về Bát chánh đạo

 

Tìm hiểu về Bát chánh đạo

                                                                                              

                 Sau khi thành đạo, Đức Phật Thích-ca đã thuyết pháp ròng rã 49 năm nhằm dẫn dắt chúng sanh hướng về bờ giác. Những cống hiến vô cùng quý báu và to lớn của Đức Phật là đã để lại cho nhân loại một hệ thống giáo lý đồ sộ với Tam Tạng Kinh Điển, giúp con người nương theo đó mà hành trì để có được sự an lạc, giải thoát. Ngài đã dạy giáo pháp tu học theo những cách khác nhau và bằng những ngôn từ khác nhau cho những người khác nhau, theo giai đoạn phát triển của họ, nhưng bản chất của ngàn lời thuyết giảng ở khắp nơi trong kinh điển Phật giáo đều được tìm thấy không ngoài Bát chánh đạo. Vậy Bát chánh đạo là gì? Áp dụng trong tu tập như thế nào? Đó là nội dung của bài viết dưới đây.

 

 

 

1. Bát Chánh Đạo là gì?

             Bát chánh đạo (Hán cổ: 八正道, tiếng Phạn: āryāṣṭāṅgamārga་), là con đường tám nhánh để giải thoát hết thảy các lậu hoặc, là giáo lý căn bản của Ðạo đế trong Tứ thánh đế.

 

Trong Tương ưng bộ kinh, thiên Ðại Phẩm, phần Tương ưng Sự Thật, phẩm Chuyển Pháp Luân tr.1059, có nêu lên bài kinh Chuyển Pháp Luân là bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật Thích-ca sau khi đã thành đạo, thuyết giảng cho 5 người bạn đồng tu khổ hạnh là Kondanna (Kiều Trần Như), Phật dạy như sau:

“…phương pháp hành trì tu tập hay Đạo đế, con đường dẫn đến an vui Niết-bàn chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là: chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này các Tỷ-kheo, do Như Lai chánh giác, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.”

 

Lại nữa, Phật dạy như sau:

“Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn
Thánh đạo Tám ngành... thiên về Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, xuôi về Niết-bàn
(Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN,  tr.852)

“Này các Ty-kheo, Như Lai cũng lại như thế, khéo quán sát đời này đời sau, quán sát biển sanh tử, con đường của Ma. Tự đem Bát chánh đạo để vượt qua nạn sanh tử, lại dùng đạo này để độ người chưa được độ.” (Tăng nhất A hàm, ĐTKVN,  tr.767)

 

Bát chánh đạo đã được Đức Phật giới thiệu và định nghĩa một cách rõ ràng  trong rất nhiều bài kinh thuộc hệ thống Nikaya, đặc biệt trong Trung bộ kinh, bài kinh số 141 (Saccavibhanga Sutta), tr.768 và Kinh Đại Niệm Xứ, bài kinh số 22 của Trường bộ kinh, tr.292 có giải thích một cách chi tiết về Bát chánh đạo như sau:

“Thế nào là Khổ diệt đạo Thánh đế. Ðó là bát chi Thánh đạo, tức là Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng,  Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.

 

Thế nào là Chánh tri kiến? Tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Như vậy gọi là Chánh tri kiến.

Thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Như vậy gọi là Chánh tư duy.

 

Thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Như vậy gọi là Chánh ngữ.

 

Thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Như vậy gọi là Chánh nghiệp.

 

Thế nào là Chánh mạng? Ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng chánh mạng. Như vậy gọi là Chánh mạng.

 

Thế nào là Chánh tinh tấn? Ở đây, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Như vậy gọi là Chánh tinh tấn.

 

Thế nào là Chánh niệm? Ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Như vậy gọi là Chánh niệm.

 

Thế nào là Chánh định? Ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy gọi là Chánh định”.

 

Bát chánh đạo được xem là Trung đạo vì thực hành Bát chánh đạo, hành giả vừa xa lánh đời sống dục lạc vừa tránh xa đời sống khổ hạnh ép xác, tức là không nghiêng về hai thái cực của lợi dưỡng và khổ hạnh. Nói cách khác, Bát chánh đạo tránh xa tất cả các cực đoan trong các cách ứng xử ở đời và trong các quan điểm.

 

Bát chánh đạo là con đường để giải thoát hết thảy các lậu hoặc, là con đường mà Đức Phật đã thực chứng và đem kinh nghiệm thực chứng này dạy lại cho chúng sanh, nên người học Phật cần phải nắm vững các quy định của Đức Phật về Bát chánh đạo và phải xem đây như là kim chỉ nam để áp dụng trong việc tu tập hành trì trên con đường hướng về Bảo Sở. Vậy thực hành Bát chánh đạo nên bắt đầu từ chi phần nào và làm sao để biết ta đang đứng ở đâu, cách Bảo Sở bao xa. Dĩ nhiên rằng đối với người tu Phật thì không nên mong cầu quả vị hay sự chứng đắc; chỉ cần nhiệt tâm, tinh tấn, vững lòng tin làm theo những gì Phật dạy thì tất nhiên sẽ có sự thành tựu, thậm chí còn thành tựu viên mãn. Tuy nhiên, người tu Phật cũng cần phải có đủ trí tuệ để biết ta đang đứng ở đâu, cách Bảo Sở bao xa; những gì ta đã làm được; những gì ta còn vướng mắc, tại sao lại vướng mắc và ta sẽ giải quyết những vướng mắc này như thế nào. Ngược lại, nếu người tu Phật không biết rõ về con đường mình đang đi, thì dù cho có đi, đi mãi cũng không bao giờ được viên mãn.

 

Cũng gống như một người lái một con thuyền nhỏ vượt qua đại dương sanh tử mênh mông vô tận, nhưng lại không có la-bàn, không hiểu gì về sóng gió, không biết rõ trên biển có những quái thú gì, những chướng ngại nào, lại càng không biết trang bị cho mình những chiếc phao giới luật, thì dù người ấy có đi nhưng không bao giờ đến được bờ bên kia. Cũng vậy, người tu học Phật mà không rõ những lời dạy của Phật; không thực hành theo lời Phật thì dù cho có tu đến ngàn kiếp cũng chỉ uổng phí mà thôi.

 

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, chúng ta cần phải đối chiếu Bát chánh đạo với Tam vô lậu học, với các bước để thành tựu của một vị Sa môn và với việc đoạn trừ 10 kiết sử.

 

(1) Bát chánh đạo với Tam vô lậu học

               Tam vô lậu học là ba pháp học tập để dẫn đến đời sống vô lậu, tức là không bị rơi vào sinh tử luân hồi. Đó là giới định tuệ.

 

Tam vô lậu học cũng được Đức Phật dạy rất nhiều trong các kinh thuộc hệ thống kinh nguyên thủy Nikaya và Ngài cũng khẳng định Tam vô lậu học là con đường mà Ngài đã thành tựu đạo quả:

“Giới, định và trí tuệ,

Con đường hướng chánh giác.

Ta tu tập hạnh ấy,

Ðạt được tối thắng tịnh” (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.102)

 

Từ những định nghĩa trên về Bát chánh đạo, nếu đối chiếu với Tam vô lậu học, thì Chánh kiến và Chánh tư duy được xem là trí tuệ; Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, được xem là giới; Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định được xem là định. (Trung bộ kinh, ĐTKVN, tr.230)

 

Nếu như 3 mặt trong Tam vô lậucó mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tương quan, tương duyên và dung nhiếp lẫn nhau, nghĩa là trong giới đã có định và tuệ hay trong định đã có giới và tuệ, còn trong tuệ đã có giới và định; thì 8 chi phần của Bát chánh đạo cũng có mối tương quan mật thiết với nhau, trong cái này đã bao hàm cái kia và trong cái kia đã chứa đựng cái này. Đó chính là khái niệm tương quan, tương duyên trong triết lý Duyên sinh của Phật giáo. Ví dụ như Chánh kiến là chi phần đầu tiên của Bát chánh đạo thuộc tuệ học, nhưng trong Chánh kiến cũng phải có sự hỗ trợ của 7 chi phần còn lại, bởi lẽ muốn có cái nhìn như thị đối với các pháp thì cần phải có Chánh niệm, Chánh định, Chánh tinh tấn. Muốn có Chánh niệm, Chánh định thì phải có Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng.

 

Thật ra, Bát chánh đạo đối với Tam vô lậu học cả hai đều tương dung tương nhiếp với nhau. Tam vô lậu học có mặt ở trong Bát chánh đạo và Bát chánh đạo cũng có mặt ở trong Tam vô lậu học. Nói cách khác, Bát chánh đạo là hình thức khai triển của Tam vô lậu học và Tam vô lậu học là cái lõi thu hẹp của Bát chánh đạo. Xét về hình thức thì Bát chánh đạo và Tam vô lậu học được xem như là hai, nhưng thực chất của nội dung và mục đích, thì cả hai chỉ là một. Tùy theo hoàn cảnh, căn cơ, nhân duyên của đệ tử mà lúc thì Phật dạy Bát chánh đạo, lúc thì Phật dạy Tam vô lậu học.

 

(2) Bát chánh đạo đối chiếu với các bước để thành tựu của một vị Sa môn

               Các bước thành tựu của một vị Sa môn đã được Đức Phật nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong các bài kinh thuộc bộ kinh Nikaya, ví dụ như bài kinh số 27, 51, 53, 60, 76, 79, 94, 101, 107, 112, 125 của Trung bộ kinh; bài kinh số 8, 9, 10, 21, 28 của Trường bộ kinh; chương II thiên nhân duyên, Tương ưng Kassapa, phẩm y áo; chương IV thiên sáu xứ, Tương ưng sáu xứ, phần 50 kinh thứ 3 của Tương ưng bộ kinh; chương 2 pháp, phẩm người đóng xe, phẩm Sa môn; chương 4 pháp, phẩm bánh xe, phẩm Đại phẩm của Tăng chi bộ kinh….

 

Đặc biệt, trong bài Đại kinh xóm ngựa (bài kinh số 39 của Trung bộ kinh), tại ấp có tên "Xóm ngựa" của cư dân xứ Anga, Phật dạy chúng đệ tử một cách rõ ràng về các pháp làm nên một vị Sa môn, như sau:

1. Giới hạnh (Thân, Khẩu, Ý hành đều thanh tịnh)

2. Hộ trì các căn

3. Tiết độ trong ăn uống

4. Chú tâm cảnh giác

5. Chánh niệm tĩnh giác

6. Đoạn trừ 5 triến cái

7. Thành tựu bốn tầng thiền định (từ Sơ đến Tứ thiền)

8. Chứng Tam minh

9. Thành bậc A-la-hán.

 

Lại nữa, trong bài kinh Sa môn quả (bài kinh số 2 của Trường bộ kinh), sau khi vua A-xà-thế thuật lại những lời của sáu vị sư trưởng ngoại đạo đã chẳng làm thoả mãn câu hỏi của mình về lợi ích của việc tu hành, nhà vua thỉnh Đức Phật chỉ rõ các kết quả thiết thực trước mắt mà người tu sĩ Phật giáo có thể gặt hái được. Nhân đó, Đức Phật đã giảng kinh Sa môn quả, trình bày đường lối tu hành của các Sa môn với 9 bước vừa kể trên, cùng với những thành quả đạt được ngay trong hiện đời.

 

Cần nên chú ý rằng quả vị A-la-hán trong các kinh điển nguyên thủy là quả vị cao nhất, hoàn toàn khác với quả vị A-la-hán trong các kinh điển đại thừa, bởi vì theo các kinh điển nguyên thủy, Đức Phật Bổn Sư cũng chỉ là bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

 

Như vậy, nếu đem Bát chánh đạo đối chiếu với các bước để thành tựu của một vị Sa môn, thì Chánh kiến và Chánh tư duy sẽ giúp người tu học giữ được Giới hạnh thanh tịnh, Hộ trì các căn và Tiết độ trong ăn uống; Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng cũng giúp người tu học có Giới hạnh; Chánh niệm sẽ giúp người tuhọc Chú tâm cảnh giác, Chánh niệm tĩnh giác; Chánh định sẽ giúp người tu học Đoạn trừ 5 triến cái, Thành tựu bốn tầng thiền định.

 

            Và dĩ nhiên là sau khi thành tựu được bốn tầng thiền định, một vị Sa môn sẽ tiếp tục quán chiếu để chứng Tam minh giống như con đường mà Phật đã từng quán chiếu trong đêm thứ 49 để thành tựu đạo quả.

 

            Nếu một hành giả sau khi thực hành Bát chánh đạo, rồi đem đối chiếu với các bước để thành tựu của một vị Sa môn mà Phật đã dạy thì sẽ biết mình đang đứng ở vị trí nào trên con đường tiến về Bảo sở và còn cách Bảo sở bao xa cũng giống như người ăn cơm, đói hay no, tự mình biết lấy.

 

(3) Bát chánh đạo với việc đoạn trừ 10 kiết sử

                Mười kiết sử trói buộc con người trong sinh tử luân hồi cũng được Phật dạy đi dạy lại rất nhiều lần trong các bài kinh thuộc bộ kinh Nikaya, ví dụ như bài kinh số 2, 6, 22, 34, 44, 51, 52, 64, 68, 73, 81, 91, 99, 118, 140, 148 của Trung bộ kinh; bài kinh số 6, 16, 18, 19, 28, 29, 33 của Trường bộ kinh; chương ba pháp, phẩm Sa môn, phẩm Cát tường; chương bốn pháp, phẩm Bhandagàma, phẩm Không Có Rung Động, phẩm Loài Người, phẩm Tư Tâm Sở của Tăng chi bộ kinh,  Lời Cảm Hứng (Tạp 2, Ðại 2,16c) (S.iii,55) của Tương ưng bộ kinh….

 

Đặc biệt trong kinh Phúng tụng, bài số 32, Trường bộ kinh, ĐTKVN, tr.425, Phật dạy rõ: “Năm hạ phần kiết sử gồm thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham, sân. Năm thượng phần kiết sử gồm sắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh… Đoạn dứt ba kiết sử, thành bậc Dự lưu. Đoạn dứt ba kiết sử và làm nhẹ bớt tham, sân, thành bậc Nhứt lai. Đoạn dứt năm hạ phần kiết sử, thành bậc Bất hoàn. Diệt tận 10 lậu hoặc kiết sử, thành bậc A-la-hán.”

 

Lại nữa, trong Tương ưng bộ kinh, Phật dạy muốn phá các kiết sử phải dùng Bát chánh đạo: “Này các Tỷ-kheo, có năm hạ phần kiết sử này. Thế nào là năm? Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Này các Tỷ-kheo, chính vì mục đích thắng tri, liễu tri, đoạn diệt, đoạn tận năm hạ phần kiết sử này, Thánh đạo tám ngành này cần phải tu tập.

 

Có năm thượng phần kiết sử này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là năm? Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo cử, vô minh. Này các Tỷ-kheo, chính vì mục đích thắng tri, liễu đoạn diệt, đoạn tận năm thượng phần kiết sử này, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập.” (Tương Ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.864)

 

Nếu đem Bát chánh đạo đối chiếu với việc đoạn trừ 10 kiết sử, thì Chánh kiếnsẽ giúp đoạn trừ đượcthân kiến, nghi, giới cấm thủ; Chánh tư duy Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệmsẽ giúp đoạn trừ được tham dục và sân; Chánh địnhsẽ giúp đoạn trừ đượcsắc ái, vô sắc ái, mạn, trạo cử, vô minh.

 

Nếu một hành giả thực hành Bát chánh đạo rồi đối chiếu với việc đoạn trừ 10 kiết sử thì sẽ biết mình đang đoạn trừ được bao nhiêu kiết sử, cũng giống như người ăn cơm, đói hay no, tự mình biết lấy.

 

2. Áp dụng trong tu tập

2.1. Tu tập Chánh kiến

              Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh kiến:Thế nào là Chánh tri kiến? Tri kiến về Khổ, tri kiến về Khổ tập, tri kiến về Khổ diệt, tri kiến về Khổ diệt đạo. Như vậy gọi là Chánh tri kiến.”

 

Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng nếu muốn tu tập Chánh kiến thì bắt buộc đầu tiên là phải hiểu một cách rõ ràng về giáo lý Tứ đế.

 

Tứ đế hay Tứ diệu đế hay Tứ thánh đế là một trong những giáo lý rất căn bản nhưng lại vô cùng quan trọng của Phật giáo, là một phương pháp đủ cả hai phần lý thuyết và thực hành, đưa hành giả tới giác ngộ giải thoát. Người học Phật mà biết một cách mơ hồ về Tứ đế hay không thực hành Tứ đế thì sẽ bị thiệt thòi to lớn, chẳng những bản thân họ rất nghèo về Chánh kiến, không thể mở con mắt pháp mà còn có lỗi với Đức Từ Phụ vì đã không làm phát triển được gia tài giáo lý mà Ngài đã cống hiến cho nhân loại.

 

Theo các kinh điển đại thừa, Tứ đế là pháp tu của hàng Thanh văn, tức là hàng trí kém, thấp nhỏ. Ngược lại, theo các kinh điển nguyên thủy, tất cả các thiện pháp đều tập trung trong Tứ đế, ví như tất cả dấu chân của mọi loại động vật đều thâu nhiếp trong dấu chân voi. Thậm chí, trong Tương ưng bộ kinh, phần Tương ưng Sự Thật, Phẩm Kotigama, Phật còn nhấn mạnh công năng của giáo lý Tứ đế đã đưa Ngài đến quả vị Phật: “Này các Tỷ-kheo, do như thật chánh giác bốn Thánh đế này, Như Lai được gọi là bậc A-la-hán, Chánh đẳng Chánh giác.” (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.1066)

 

Cũng vậy, trong Trường bộ kinh, Phật khẳng định nếu ai nhận thức một cách rõ ràng về Tứ đế thì có thể chấm dứt sanh tử luân hồi: “Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.” (Trường bộ kinh, phẩm Đại Bát NB, ĐTKVN, tr.177)

 

Và thật là chấn động thay, khi tại khu rừng Simsapa, xứ Kosambi, trước đông đảo chúng hội Tỳ kheo, Phật cầm nắm lá Simsapa trong tay và hỏi lá trong rừng nhiều hơn hay lá trong tay Ngài nhiều hơn. Chờ cho chúng Tỳ kheo đáp rằng lá trong rừng nhiều hơn thì Phật lại dạy rằng những gì mà Phật biết được nhiều như lá trong rừng, nhưng những điều mà Phật dạy cho các Tỳ kheo thì ít như lá trong tay Ngài vì Phật chỉ dạy những gì giúp cho chúng đệ tử đi đến giải thoát, giác ngộ mà thôi. Đó là gì? Chính là giáo lý Tứ đế: “Và này các Tỷ-kheo, điều gì mà Ta nói? Ðây là Khổ, Ðây là Khổ tập, Ðây là Khổ diệt, Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt, là điều Ta nói. Nhưng tại sao, Ta lại nói ra những điều ấy? Vì rằng, những điều ấy liên hệ đến mục đích, là căn bản cho Phạm hạnh, đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Do vậy, Ta nói lên những điều ấy.” (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.1068)

 

Lại nữa, trong phẩm Chuyển pháp luân, phần Tương ưng Sự Thật, Phật luôn nhắc đi nhắc lại chúng đệ tử phải thực tập Tứ đế. Nếu ai không rõ về Tứ đế thì không phải là hàng Sa môn tu Phật: “Những Sa môn không như thật rõ biết Ðây là Khổ, không như thật rõ biết Ðây là Khổ tập, không như thật rõ biết Ðây là Khổ diệt, không như thật rõ biết Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt, thời các vị Sa môn ấy không được Ta chấp nhận là Sa môn trong các hàng Sa môn.”  (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.1065)

 

Phật cũng có một định nghĩa về vô minh rất ấn tượng và rất dễ hiểu. Vô minh tức là không rõ về Tứ đế: “Này Tỷ-kheo, chính là không rõ biết Khổ, không rõ biết Khổ tập, không rõ biết Khổ diệt, không rõ biết Con Ðường đưa đến Khổ diệt. Này Tỷ-kheo, đấy gọi là vô minh. Cho đến như vậy là đi đến vô minh”. (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.1063)

 

Lại nữa, trong Trung bộ kinh, Phật xác chứng rằng nếu ai như lý tác ý Tứ đế thì coi như đã mở được con mắt pháp, có thể chứng quả Dự lưu: “Vị ấy như lý tác ý: "Ðây là khổ", như lý tác ý: "Ðây là khổ tập", như lý tác ý: "Ðây là khổ diệt", như lý tác ý: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.” (Trung bộ kinh, phẩm Đoạn trừ lậu hoặc, ĐTKVN, tr.11)

 

Các định nghĩa về Tứ đế đã được Phật dạy rất chi tiết trong nhiều bài kinh của hệ Nikaya. Ở đây, người viết không trích dẫn lại, mà chỉ liệt kê ra để chúng ta tiện tra cứu, ví dụ như bài kinh số 9, số 77 và số 141 của Trung bộ kinh; Tăng chi bộ kinh, tr.107; Tương ưng về Sự thật của Tương ưng bộ kinh…

 

Sự thể nhập giáo lý Tứ đế của một người mới tu học so với một bậc Thánh hoàn toàn khác nhau. Người mới tu học hiểu Tứ đế một cách cạn cợt thông qua kinh điển. Họ chưa có sự thực tập trãi nghiệm, chưa trừ được tham sân si nên vẫn chưa thể nhập được Đạo đế và Diệt đế. Ngược lại, đối với bậc Thánh, do có thực tập Đạo đế nên đoạn trừ tham sân si, kết quả là các bậc Thánh đều thông suốt cả Đạo đế lẫn Diệt đế. Chính vì vậy mà Tứ đế còn được gọi là Tứ thánh đế, tức là chỉ có bậc Thánh mới rõ biết như thật.

 

Như trình bày ở trên, sự hiểu biết về Tứ đế dựa trên kinh điển chỉ ở mức độ “Văn”, hành giả cần phải tư duy về cách để tu tập Tứ đế. Sau khi đã có Văn và Tư rồi, hành giả sẽ bắt đầu hạ thủ công phu để đi trọn bước đường Văn Tư Tu.

 

Cuối cùng, việc hạ thủ công phu để tu tập Chánh kiến là gì? Chắc chắn câu trả lời đúng nhất là phải thực hành Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định (vì có định nên sanh tuệ). Làm thế nào để có Chánh niệm và Chánh định? Dĩ nhiên là phải thực hành Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng (vì có giới nên sanh định). Điều này một lần nữa khẳng định rằng trong Chánh kiến cũng phải có sự hỗ trợ của 7 chi phần còn lại và Bát chánh đạo có liên quan vô cùng mật thiết với giới định tuệ.

 

Như vậy, để tu tập Chánh kiến, cần phải thấy như thật Tứ đế. Để rõ biết về Tứ đế cần phải mở những trang kinh để nghe những lời dạy của Phật về Tứ đế. Dựa vào những hiểu biết trên kinh điển về Tứ đế, hành giả sẽ tư duy và tu tập Tứ đế để có cái nhìn Chánh kiến.

 

2.2. Tu tập Chánh tư duy

               Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh tư duy:Thế nào là Chánh tư duy? Tư duy về ly dục, tư duy về vô sân, tư duy về bất hại. Như vậy gọi là Chánh tư duy”.

 

            Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng Chánh tư duy cần được các hành giả Phật giáo tu tập là chuyển hóa những tư duy tham, tư duy sân hận và tư duy si mê. Ai nỗ lực để giải phóng cả ba tà tư duy trên thì được xem là đạt Chánh tư duy. Những tà tư duy này thuộc về ý nghiệp, đứng đầu và làm chủ hai nghiệp còn lại (thân và khẩu), nếu không có ý nghiệp thì sẽ không có hai nghiệp sau.

 

Trong kinh Song tầm, bài kinh số 19 của Trung bộ kinh, Phật dạy kinh nghiệm về cách tu tập Chánh tư duy của Ngài như sau: Phật suy tư và chia hai suy tầm, một là dục tầm, sân tầm, hại tầm; hai là ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm. Rồi Ngài sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ngài tuệ tri rằng dục tầm này đang khởi lên và sẽ đưa đến tự hại mình, hại người, diệt trí tuệ, gây phiền não, không đưa đến Niết-bàn. Khi Ngài suy tư như vậy thì dục tầm tự biến mất và Ngài tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm. Cũng tương tự như vậy Ngài tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận sân tầm và hại tầm. Khi đã đoạn trừ được ba tà tư duy là tham, sân, si thì Ngài đạt dược Chánh tư duy là ly dục, vô sân, bất hại. Theo Phật, tầm (vitakka) đóng vai trò quan trọng trong chiều hướng suy tư, bởi tầm là khởi điểm của các hoạt động tâm thức hay tư tưởng. Để nuôi dưỡng và phát triển Chánh tư duy, Ngài khuyên chúng ta từ bỏ các bất thiện tầm (dục tầm, sân tầm, hại tầm) và nuôi dưỡng các thiện tầm (ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm).

 

Như vậy, để tu tập Chánh tư duy thì trong đời sống hàng ngày, hành giả sẽ không phóng tâm ra ngoài, luôn luôn giữ được cái tâm, nắm được cái tâm để có thể nhìn thấy và lắng nghe tâm, kiểm soát tâm để có thể tư duy về ly tham, vô sân và bất hại. Có như vậy thì hành giả mới thực tập được Chánh tư duy. Nhờ tu tập và sống trong lớp Chánh tư duy như vậy, hành giả mới lìa xa được cái gốc của tham dục và các bất thiện pháp.

 

2.3. Tu tập Chánh ngữ

              Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh ngữ:“Thế nào là Chánh ngữ? Tự chế không nói láo, tự chế không nói hai lưỡi, tự chế không ác khẩu, tự chế không nói lời phù phiếm. Như vậy gọi là Chánh ngữ.”

 

Từ định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng để tu tập Chánh ngữ, hành giả cần phải giữ gìn cẩn thận lời nói. Tu tập Chánh ngữ cũng chính là tu tập giới thứ tư (giới vọng) trong năm giới căn bản của Phật giáo.

 

Trong Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân, Phật bảo A Nan: “Người ta sinh ra ở đời, họa từ trong miệng mà sinh ra, nên phải giữ gìn cửa miệng hơn cả lửa mạnh, vì lửa mạnh có đốt cháy cũng chỉ đốt cháy một đời này mà thôi, còn như nói ác sẽ đốt cháy trong vô số kiếp. Lửa chỉ đốt cháy nhà cửa, của cải của thế gian, còn lời nói ác đốt cháy bảy thứ của cải của Thánh nhân.”   

 

Khi còn tại thế, Đức Phật luôn luôn giữ thái độ im lặng mỗi khi có người hỏi Phật về những vấn đề hay các phạm trù thuộc về kiến chấp. Ngài biết rằng trong trường hợp đó, nếu trả lời thì cũng chẳng giúp ích gì cho người hỏi, mà còn khiến họ rơi vào tà kiến, hí luận. Thái độ im lặng đó chính là Ngài đang giữ gìn Chánh ngữ.

 

Đức Phật thường khuyên các chúng đệ tử rằng: "Này các Tỳ-khưu, khi quí vị hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: một là đàm luận về Chánh pháp, hai là giữ sự im lặng của bậc Thánh" (Tiểu bộ kinh, Phật tự thuyết, Udana 10).

 

Trong bài kinh số 58  của Trung bộ kinh, có ghi lời Đức Phật trả lời Vương tử Vô Úy rằng: “Lời nói nào Như Lai biết không như thật, không như chân, không tương ứng với mục đích, và lời nói ấy khiến những người khác không ưa, không thích, Như Lai không nói lời nói ấy.” (Trung bộ kinh, ĐTKVN, tr.303)

 

“Này các Tỷ-kheo, Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy. Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được gọi là Như Lai”.  (Tăng chi bộ kinh, ĐTKVN, tr.204)

 

Trong Kinh Tăng nhất A Hàm, Ðức Phật lại dạy: “Lời Như Lai trọn không hư dối, thân hành với khẩu hành không khác nhau.” (Tăng nhất A Hàm, ĐTKVN, tr.77).

 

Rõ ràng rằng, Phật dạy chúng ta tâm khẩu phải không khác. Tâm nghĩ sao, miệng nói vậy. Khi miệng nói tốt, thì tâm cũng nên nghĩ tốt. Có như vậy, mới được an lạc, mới đúng là người tu đạo. Ngược lại, tâm nghĩ một đàng, miệng nói một nẻo, miệng nói như vậy, tâm không như vậy, dù có hình tướng nào, cũng là người dối trá, giả mạo mà thôi. 

 

Như vậy, để tu tập Chánh ngữ, hành giả cần phải giữ gìn trọn vẹn giới thứ tư để tránh tạo khẩu nghiệp, tránh hí luận và im lặng đúng với chánh pháp, thậm chí, oan ức không cần biện bạch vì biện bạch là nhân ngã chưa xả.  Hãy lấy oan ức làm cửa ngõ để tiến tu đạo hạnh. Nói năng đúng với chánh pháp và im lặng đúng với chánh pháp, đó là nguyên tắc của người tu Phật. Có đôi lúc im lặng chính là đang thực tập Chánh ngữ.

 

2.4. Tu tập Chánh nghiệp

                 Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh nghiệp:“Thế nào là Chánh nghiệp? Tự chế không sát sanh, tự chế không trộm cướp, tự chế không tà dâm. Như vậy gọi là Chánh nghiệp.”

 

Con người thường có ba nghiệp, đó là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp. Ở đây, chúng ta chỉ bàn về thân nghiệp, còn khẩu nghiệp thuộc phần Chánh ngữ và ý nghiệp thuộc phần Chánh tư duy. Một hành động được xem là không gây nghiệp, nếu nó được thực hiện mà xuất phát từ tâm vô tham, vô sân, vô si. Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt vòng luân hồi, mà muốn thoát khỏi vòng này, thì phải từ bỏ sát đạo dâm.

 

Người có các hành động sát sanh, trộm cắp hay dâm dục chẳng qua họ bị dục lạc thế gian lôi cuốn mà thôi. Trong bài kinh số 75 của Trung bộ kinh, Phật ví người bị tất cả các dục lạc của thế gian lôi cuốn cũng như một người bị bệnh cùi; với thân đầy những lở lói, với thân hư thối, nứt chảy, bị các loại trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay. Để vượt qua cơn ngứa khủng khiếp đang hoành hành thân thể, họ phải hơ đốt thân mình trên hố than hừng. Các bạn bè thân hữu, bà con huyết thống của người ấy mời một y sĩ khoa mổ xẻ, rồi cho người ấy thuốc. Người ấy dùng thuốc, được khỏi bệnh cùi, không bệnh, an lạc, tự do, tự tại, có thể đi chỗ nào người ấy muốn. Người ấy thấy một người bị bệnh cùi khác, với thân những lở lói, với thân hư thối, nứt chảy, bị các loài trùng đục khoét, đang cào rách miệng các vết thương với móng tay, hơ đốt thân mình trên hố than hừng; người ấy cảm thấy mình đã may mắn thoát bệnh và thương xót cho những ai còn đang ngụp lặn trong cơn bệnh hủi quái ác kia. Chỉ có những bậc trí tuệ mới thấy được đắm vào dục lạc thế gian như một thứ bệnh cùi nên các bậc trí tránh xa dục lạc.

 

Như vậy, Chánh nghiệp là hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi ích cho người lẫn vật. Người mới tu tập Chánh nghiệp chưa đủ trí tuệ như các bậc Thánh để nhìn thấy các dục lạc giống như thứ bệnh cùi hủi. Cho nên muốn thực tập Chánh nghiệp thì bắt buộc phải nuôi dưỡng lòng từ bi, nói rộng hơn nữa là phải tu tập tứ vô lượng tâm. Ai đã đạt được từ bi tâm rồi thì sẽ thương chúng sanh như con của mình, do vậy người ấy sẽ không có sát hại, không có trộm cắp và cũng do người ấy vun bồi mảnh đất từ bi nên cây trí tuệ sẽ phát triển. Khi có trí tuệ rồi, người ấy dễ dàng nhìn thấy những nguy hiểm của dâm dục nói riêng và dục lạc nói chung, nên họ tránh xa. Đó là cách tu tập Chánh nghiệp đơn giản và dễ thực hành nhất.

 

2.5. Tu tập Chánh mạng

                     Xin được nhắc lại quy định của Đức Phật về Chánh mạng:

“Thế nào là Chánh mạng? Ở đây vị Thánh đệ tử từ bỏ tà mạng, sinh sống bằng Chánh mạng. Như vậy gọi là Chánh mạng.” (Trung bộ kinh, ĐTKVN, tr.768)

 

Một định nghĩa khác về Chánh mạng của Đức Phật trong kinh Tạp A hàm:

“Thế nào là Chánh mạng? Là cầu y phục, ẩm thực, ngọa cụ thuốc thang đúng như pháp, chứ không phải không như pháp”. (Kinh số 784 Tà Chánh, Tạp A hàm, ĐTKVN, tr. 3009)

 

Để hiểu rõ hơn về Chánh mạng, chúng ta cũng nên tìm hiểu về tà mạng. Trong Trung bộ kinh, Phật dạy: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tà mạng? Lừa đảo, nói lời mê ly, hiện tướng, gian trá, lấy lợi cầu lợi; như vậy là tà mạng.” (Kinh số 117, Đại kinh Bốn Mươi, Trung bộ kinh, tr.650)

 

Trong Tương ưng bộ kinh và Tạp A hàm, Tôn giả Xá-lợi-phất, nói rõ tà mạng như sau:“Sa-môn nào, nuôi sống bằng những tà mạng như địa lý và các nghề hèn hạ; các vị ấy được gọi là các Sa-môn ăn cúi mặt xuống (hạ khẩu thực). Sa-môn nào, nuôi sống bằng những tà mạng như thiên văn và các nghề hèn hạ; các vị ấy được gọi là các Sa-môn ăn ngưỡng mặt lên (ngưỡng khẩu thực). Sa-môn nuôi sống bằng những tà mạng như đưa tin tức, làm trung gian môi giới; các vị ấy được gọi các Sa-môn ăn hướng mặt về bốn phương chính (phương khẩu thực). Sa-môn nào, nuôi sống bằng những tà mạng như bói toán, và các nghề hèn hạ; các vị ấy được gọi những Sa-môn ăn hướng mặt về bốn phương phụ (Duy khẩu thực). (Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.578Tạp A hàm, kinh số 500, Tịnh khẩu, tr.1956)

 

Như vậy, Chánh mạng tức là mạng sống chân chánh của con người, là sự sống của cơ thể không huân tập vào thân những sự khổ đau của kẻ khác hay của tất cả chúng sanh. Nói cách khác, Chánh mạng là nuôi sống thân mạng bằng những nghề nghiệp chân chánh, tức là những nghề nghiệp lương thiện, không tạo việc làm ác để nuôi thân mạng. Chánh mạng còn có nghĩa là sống không chạy theo dục vọng và các ác pháp về ăn uống. Để hổ trợ cho tu tập Chánh mạng, chúng ta hãy nghe Đức Phật dạy về bốn loại thức ăn:

Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực. Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh… Từ tập khởi của ái có tập khởi của thức ăn, từ đoạn diệt của ái có đoạn diệt của thức ăn. Thánh Đạo Tám Ngành này là con đường đưa đến đoạn diệt của thức ăn”. (Tương ưng bộ kinh, phẩm đồ ăn, ĐTKVN, tr.249)

”Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ, có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có ác hành tăng trưởng. Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.” (Tương ưng bộ kinh, Đại phẩm thứ bảy, ĐTKVN, tr.304)

 

Cho nên, người tu tập Chánh mạng thì không nên tập khởi theo ăn uống, vì chạy theo ăn uống tức là làm tăng trưởng ái dục. Chính vì vậy, khi Phật còn tại thế, Ngài dạy chúng đệ tử nên ăn ngày một bữa trước giờ ngọ để vừa nuôi sống thân thể vừa trưởng dưỡng đạo nghiệp, tức là nuôi dưỡng Chánh mạng. Ngoại trừ trường hợp cơ thể bị bệnh, Phật chế cho ăn nhiều hơn một bữa ăn trong ngày, nhưng phải sanh lòng hổ thẹn và luôn ghi nhớ rằng ăn nhiều bữa trong một ngày thì khó mà đoạn trừ ái dục.

 

Tại sao Phật không cho ăn quá ngọ? Trong các bài Kinh Bhaddali (bài số 65), Kinh Ví Dụ Con Chim Cáy (bài số 66), Kinh Catuma (bài số 67), Kinh Kitagiri (bài số 70) của Trung Bộ Kinh, Phật dạy rất rõ về tác hại của việc không giữ giới ăn phi thời hay ăn quá ngọ. Tuy đó chỉ là giới nhỏ nhặt nhưng ví như con chim cáy nhỏ bị tấm lưới làm bằng dây leo trói chặt, ở đấy con chim có thể bị sát hại, hay bị bắt nhốt, hay bị chết.

 

Khi thực hành Chánh mạng thì lúc ăn không được khen chê thức ăn vì khi vướng kẹt vào hai cực đoan ngon dỡ thì lập tức tâm tham hay sân sẽ nổi lên. Chúng rất vi tế và khó nhận diện.

 

Trong kinh Di giáo, Phật dạy: “Các thầy Tỷ kheo, thọ dụng đồ ăn thức uống, hãy coi như việc uống thuốc, ngon không ham, dở không bỏ, vừa đủ duy trì cơ thể cho khỏi đói khát…. sự ít ham muốn cũng phải thực tập… hãy cứu xét sự biết vừa đủ.” (Kinh Di giáo, HT Trí Quang dịch Việt, ĐTKVN, tr.14-15)

 

Tùy theo đối tượng mà Phật quy định Chánh mạng có khác nhau. Đối với người tại gia, Phật dạy rõ các nghề không được làm như sau:“… người cư sĩ không nên làm năm nghề này, buôn bán vũ khí, buôn bán động vật còn sống, buôn bán thịt, buôn bán các chất gây nghiện, buôn bán thuốc độc.”  (Kinh Tăng chi bộ, Chương V, Phẩm Ba Pháp, ĐTKVN)

 

Đối với người xuất gia, Phật khuyên nên sống bằng khất thực vì để hạ thấp bản ngã và tạo nhân duyên để giáo hóa chúng sanh. Trong các kinh điển thuộc hệ thống Nikaya, hình ảnh Đức Phật và Tăng đoàn đi khất thực được lặp đi lặp lại rất nhiều lần. Trong các kinh điển Đại thừa, dường như chỉ có kinh Kim Cang khắc họa lại hình ảnh này. Rất ấn tượng và đầy xúc động mà những ai sau khi đọc qua kinh Kim Cang sẽ không bao giờ quên được, đó là hình ảnh Phật cùng với Tăng đoàn ôm bát đi khất thực tại thành Xá-vệ, xong trở về Tịnh-xá, dùng cơm, rồi cất y bát. Khi rửa chân xong, Đức Phật trải tòa ngồi và giảng pháp sau khi ông Tu-bồ-đề thỉnh pháp. Đời sống của Phật còn tại thế và Tăng đoàn thanh tịnh và đơn giản như vậy đó, nên đa số đều chứng Thánh quả A-la-hán. Ngược lại, người xuất gia ngày nay có quá nhiều vướng mắc, lại xem phương tiện quan trọng hơn cứu cánh nên con đường đến Bảo sở còn xa vời vợi!

 

Sau khi thành đạo nhiều năm, Đức Phật trở về thành Kapilavatthu, Ngài cũng ôm bát đi khất thực. Vua Tịnh-phạn ngăn cản vì cho rằng dòng họ Thích-ca là cao quý thì Đức Phật nói rằng khất thực chính là hạnh của ba đời Chư Phật.

 

Kinh Tăng nhất A-hàm kể lại rằng, một hôm các vị đại đệ tử của Phật muốn tìm câu trả lời như thế nào gọi là một tỳ-kheo lý tưởng. Cứ theo sở trường của riêng mình, mỗi vị Tôn-giả cho đó là một tỳ-kheo lý tưởng. Ví dụ như ngài A-nan thì cho rằng tỳ-kheo phải đa văn, ngài Xá-lợi-phất cho rằng phải có trí tuệ, ngài Mục-kiền-liên cho rằng phải có thần thông, ngài A-nậu-lâu-đà cho rằng phải có thiên nhãn…Thế là, tất cả cùng đến gặp Phật để xin đáp án. Phật cười và dạy rằng tỳ-kheo phải nuôi mạng sống bằng khất thực, rồi ngồi kiết già, lưng thẳng, điều phục tâm cho đến khi đạt được giải thoát: “Tỳ-kheo nương ở trong thôn xóm. Người ấy đến giờ đắp y, ôm bát vào làng khất thực, khất thực xong trở về chỗ ở, rửa tay, rửa mặt, ở dưới gốc cây chỉnh thân, chỉnh ý, ngồi kiết-già, cột niệm ở trước, Tỳ-kheo ấy nghĩ rằng: 'Nay ta ngồi tòa bất hoại, phải nên dứt hữu lậu thành tựu vô lậu'. Bấy giờ Tỳ-kheo ấy tâm hữu lậu liền được giải thoát. Tỳ-kheo như thế chuyên cần tinh tấn, không có giải đãi, ở đâu cũng được sùng kính. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này”. (Kinh Tăng nhất A hàm, Phẩm Lục trọng 1, ĐTKVN,  tr.577)

 

Câu trả lời của Phật thật vô cùng đơn giản nhưng chứa đầy giáo lý Bát chánh đạo mà Ngài muốn dạy cho các đệ tử với đầy đủ Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định…

 

Ngoài ra, lời Phật dạy dưới đây trích trong kinh Di giáo cũng được xem là lời dạy về cách tu tập Chánh mạng: “…các thầy không được buôn, bán, đổi chác, sắm sửa đất nhà, nuôi người, tôi tớ và súc vật, lo việc gieo trồng, kinh doanh tài bảo. Tất cả việc này, hãy tránh như tránh hố lửa. Kể cả việc chặt phá cỏ cây và đào cuốc đất đai. Những việc chế thuốc thang, coi bói tướng, coi thiên văn, đoán thời tiết, tính lịch số, đều không thích hợp với các thầy. Các thầy hãy tiết chế cơ thể, ăn đúng thì giờ, sống bằng cách sống trong sạch, không được tham dự thế sự, lãnh sứ mạng liên lạc. Chú thuật, thuốc tiên, giao hảo quyền quí, và thân thiết với họ, rồi hèn hạ, ngạo mạn, tất cả đều không được làm.”(Kinh Di giáo, HT Trí Quang dịch Việt, ĐTKVN, tr.8)

 

Ngày nay, do hoàn cảnh xã hội, người xuất gia ở Việt Nam khó có thể sống bằng khất thực. Tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta không thực hành được Chánh mạng. Hãy ghi nhớ những lời Phật dạy vừa nêu trên thì cho dù có khất thực hay không, chúng ta vẫn thực hành được Chánh mạng.

 

Tóm lại, Chánh mạng có nghĩa là nuôi sống thân mạng bằng những nghề nghiệp lương thiện chân chánh, tức là sống đúng chánh pháp, không mê tín dị đoan, không làm lợi mình mà tổn hại đến chúng sanh khác cho dù nhỏ như con trùn, con kiến… Ngoài ra Chánh mạng còn có nghĩa là sống không chạy theo dục vọng và các bất thiện pháp về ăn uống, phải lìa xa ngũ dục. Người xuất gia mà nuôi mạng không chân chánh thì dễ sinh tâm bất thiện. Khi tâm bất thiện sanh thì sẽ có vô tàm, vô qúi, phóng dật, tức là không biết ghê sợ và hổ thẹn tội lỗi do thân do khẩu gây ra. Từ đó mà các nghiệp bất thiện sinh trưởng sẽ đẩy người xuất gia xa rời Chánh đạo.

 

2.6. Tu tập Chánh tinh tấn

               Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh tinh tấn:

“Thế nào là Chánh tinh tấn? Ở đây, đối với các ác, bất thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn không cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các ác, bất thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn trừ diệt, vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp chưa sanh, khởi lên ý muốn khiến cho sanh khởi; vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Ðối với các thiện pháp đã sanh, khởi lên ý muốn khiến cho an trú, không cho băng hoại, khiến cho tăng trưởng, phát triển, viên mãn. Vị này nỗ lực, tinh tấn, quyết tâm, trì chí. Như vậy gọi là Chánh tinh tấn.”

 

Như vậy, để tu tập Chánh tinh tấn, hành giả cần ghi nhớ bốn phương pháp hành trì sau đây:

Niệm ác chưa sanh đừng cho phát sanh

Niệm ác sanh rồi phải đoạn tận

Niệm thiện chưa sanh nên phát sanh

Niệm thiện sanh rồi nên tăng trưởng.

 

Chánh tinh tấn còn được hiểu là lòng kiên trì để giúp cho hành giả đang trên con đường tu tập đạt đến chỗ giải thoát, nên ngay từ bây giờ hành giả phải dứt bỏ những thói xấu ngay cả trong ý nghĩ lẫn hành động. Đó cũng là một thứ định lực dẫn đến trí tuệ để thấy rằng phải vun trồng ngay trong ý nghĩ, lời nói và hành động những điều thiện toàn. Nhưng vì hành giả chưa giác ngộ, nên một số các tâm tiêu cực vẫn sẽ len lỏi vào, thậm chí hành giả chưa đủ sáng suốt để nhận ra chúng là tiêu cực, đặc biệt là khi chúng đang trong trạng thái ngủ ngầm. Cho đến khi công phu tu tập của hành giả dần dần tiến bộ thì hành giả mới có khả năng nhận ra chúng.

 

Bản chất của Chánh tinh tấn chỉ đơn giản là sự kiên trì thực tập. Dưới cội bồ đề, Đức Phật đã thệ nguyện: “Nếu không chứng đạo quả Vô thượng Bồ đề, dù thịt nát xương tan, Ta cũng không rời khỏi chỗ ngồi này”. Cuối cùng, Ngài đã chiến thắng. Chính vì vậy mà trước khi nhập diệt, Ngài đã không quên nhắc nhở chúng đệ tử là hãy tinh tấn lên để được giải thoát: “các thầy phải nỗ lực tinh tiến để sớm cầu tự độ,”(Kinh Di Giáo, ĐTKVN, tr.21)

 

Người tu theo hạnh tinh tấn thì sẽ có quyết tâm không sờn lòng, không nản chí, luôn luôn theo đuổi con đường mình đang đi cho đến khi đạt được mục đích cuối cùng mới thôi, dù có gặp chướng duyên, nghịch cảnh, cũng không lấy oán mà báo oán, chỉ lấy tình thương chuyển hóa hận thù. Nên nhớ rằng chỉ có mảnh đất từ bi mới làm cho cây trí tuệ đâm chòi nẩy lộc và phát triển rực rỡ.

 

2.7. Tu tập Chánh niệm

               Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh niệm:

“Thế nào là Chánh niệm? Ở đây vị Tỷ kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, để chế ngự tham ưu ở đời; trên các cảm thọ... trên các tâm... quán pháp trên các pháp, tinh cần tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Như vậy gọi là Chánh niệm.”

 

Việc tu tập Chánh niệm được Phật dạy rất rõ ràng và chi tiết trong bài kinh số 10, niệm xứ của Trung bộ kinh hay bài kinh số 22, Đại niệm xứ của Trường bộ kinh. Ở đây, người viết chỉ nêu lên vài ý chính nhằm tóm tắt lời dạy của Phật. Chánh niệm là bốn phép quán niệm trên thân, thọ, tâm, pháp.

 

Quán Thân bao gồm sự tĩnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào, cũng như tĩnh giác trong bốn tư thế cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi), tĩnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân thể cũng như quán tử thi.

 

Quán Thọ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

 

Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).

 

Quán Pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã, biết rõ Ngũ chướng (năm triền cái) có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ sự vận hành của các pháp và hiểu rõ Tứ đế.

 

Khi còn tại thế, Phật luôn nhắc nhở chúng đệ tử phải Chánh niệm. Sự nhắc nhở này được lặp đi lặp lại nhiều lần trong các kinh thuộc hệ Nikaya: “Này các Tỷ-kheo, các ông phải sống an trú chánh niệm, tĩnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các
ông”
. (Trường bộ kinh, tr.179 và Tương ưng bộ kinh, ĐTKVN, tr.910)

 

Thậm chí trước khi Niết-bàn, Phật vẫn dặn dò đệ tử phải giữ Chánh niệm:

“…các thầy hãy luôn luôn tập trung chánh niệm lại nơi tâm trí. Mất chánh niệm là mất công đức. Nếu chánh niệm có sức lực vững mạnh, thì dẫu phải vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng sát hại; tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng, thì không còn sợ hãi gì nữa. Đó là hạnh không quên chánh niệm.”(Kinh Di Giáo, ĐTKVN, tr.16)

 

Phật còn giải thích thêm lợi ích của Chánh niệm: “Ví như, này các Tỷ-kheo, một cây có cành và lá, các mầm non và lõi cây đi đến thành mãn; vỏ cây, giác cây và lõi cây đi đến thành mãn. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi chánh niệm, tĩnh giác có mặt, với người đầy đủ chánh niệm, tĩnh giác... giải thoát tri kiến sẽ đi đến đầy đủ.” (Tăng chi bộ kinh, ĐTKVN, tr.758)

 

                 Nói một cách đơn giản, để tu tập Chánh niệm là bất cứ những gì xảy ra trên thân thể, cảm thọ, tâm hành và các pháp như tứ đế, năm triền cái, năm uẩn…người tu tập Chánh niệm phải rõ biết. Ví dụ như khi chúng ta muốn nói, thì hãy tự nhắc nhở mình nói trong Chánh niệm; khi chúng ta bước đi, mỗi bước từ lúc bạn nhấc bàn chân lên cho đến khi đặt bàn chân xuống, chúng ta phải ghi nhận động tác nhấc bàn chân lên, đưa nó về trước và hạ bàn chân xuống; khi chúng ta đứng hay ngồi, hãy ý thức về dáng bộ của thân thể của chính mình…Nói chung, phàm những gì xảy ra trên thân thể, cảm thọ, tâm thức của chính mình, người tu tập Chánh niệm phải rõ biết.

 

Nếu như, có được Chánh kiến, hành giả có thể đoạn trừ được ba kiết sử đầu tiên, thì đến khi đạt được Chánh niệm, hành giả có thể đoạn trừ thêm được hai kiết sử nữa là tham ái và sân, tổng cộng hành giả đã đoạn trừ được năm hạ phần kiết sử. Chính vì vậy mà trong kinh niệm xứ của Trung bộ kinh và đại niệm xứ của Trường bộ kinh, Đức Phật đã xác chứng cho những ai tu tập Chánh niệm viên mãn sẽ thành tựu quả Bất hoàn. Mãi cho đến khi hành giả thành tựu viên mãn Chánh định và thực hiện quán chiếu như Phật dạy trong bài kinh số 4 của Trung bộ kinh thì mới phá trừ được năm thượng phần kiết sử còn lại, vén bức màn vô minh, thành tựu bậc A-la-hán.

 

2.8. Tu tập Chánh định

                Xin được nhắc lại định nghĩa của Đức Phật về Chánh định:Thế nào là Chánh định? Ở đây Tỷ kheo ly dục, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm, với tứ. Tỷ kheo ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Tỷ kheo ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Tỷ kheo ấy xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh. Như vậy gọi là Chánh định.”

 

Như vậy, Phật quy định rõ Chánh định tức là định của bốn tầng thiền sắc giới từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền.

 

Dù rằng Đức Phật đã đạt đến cửu định (4 định của thiền Sắc giới, 4 định của thiền Vô sắc giới và Diệt thọ tưởng định) nhưng Ngài không khuyến khích chúng đệ tử cũng đạt đến cửu định như Ngài mà chỉ dạy cho chúng đệ tử đạt đến định của Tứ thiền, rồi chuyển sang quán sát như Ngài đã từng quán sát trong đêm thứ 49 trước khi thành đạo, để chứng Tam minh, Lục thông.

 

Việc thực tập Chánh định được Phật dạy rất chi tiết trong kinh thân hành niệm, bài kinh số 119 của Trung bộ kinh. Có vài điểm cần lưu ý khi thực tập:

Phải tiết độ trong ăn uống để tránh hôn trầm.

Phải giữ gìn giới hạnh thì mới ly dục và ly bất thiện pháp.

 

Trong lúc tọa thiền, hành giả không được nhớ về quá khứ, không nghĩ chuyện tương lai, mà chỉ hướng tâm vào hơi thở, chỉ có hơi thở mà thôi. Khi thở vào, thở ra đều rõ biết tôi đang thở vào, thở ra; khi thở hơi thở dài, ngắn cũng đều rõ biết như vậy thì sẽ dễ dàng thành tựu được hai thiền chi đầu của thiền nguyên thủy (Như Lai thiền) là Tầm và Tứ. Sau khi đạt Tầm và Tứ, lập tức chi thứ ba là Hỷ sẽ phát sinh. Ngay tại chi Hỷ này, hành giả đã cảm thấy niềm vui, niềm an lạc của việc hành thiền. Nếu như những món ăn hằng ngày là thức ăn dành để nuôi dưỡng thân, thì thiền tập là thức ăn để nuôi dưỡng tâm và ngày nào không được hành thiền, hành giả sẽ cảm thấy tâm mình bị “đói”.

 

Sau khi đạt được Hỷ, hành giả vẫn an trụ tâm ngay trong từng sát na hiện tại để theo dõi hơi thở, hành giả vẫn phải tiếp tục đoạn trừ các phần còn lại của triền cái và sẽ thành tựu được thiền chi thứ tư là Lạc. Lúc bấy giờ thân tâm hành giả đều an lạc - một niềm an vui tự tại xuất phát từ tâm an tịnh - nên hành giả không còn quan tâm đến những niềm vui của thế tục nữa bởi vì đó là những hạnh phúc giả tạo dựa trên nền tảng của ngũ dục.

 

Tiếp tục công phu, an trụ tâm trong ngay trong từng sát na hiện tại để theo dõi hơi thở, hành giả sẽ đạt được thiền chi cuối cùng là Nhất tâm. Không nôn nóng, vội vã mong cầu đạt được các tầng thiền mà cần phải kiên trì, liên tục không gián đoạn. Sau khi đoạn trừ được năm triền cái, lập tức sẽ thành tựu năm thiền chi, định tướng sẽ xuất hiện và hành giả chuẩn bị bước vào các tầng định. Xin đừng vội vã mà hãy quan sát thật kỷ định tướng và nắm cho thật vững các thiền chi để khi bước vào các tầng định, hành giả không bị lạc đường. Chỉ cần đạt được tầng định đầu tiên là Sơ thiền, thì hành giả đã rời khỏi Dục giới và chính thức bước vào cảnh giới của Sắc giới. Tâm hành giả bấy giờ vô cùng an lạc mà không có hạnh phúc nào của thế gian có thể sánh ví bằng, bởi vì Sắc giới đã vượt lên trên sáu tầng trời Dục giới thì thử hỏi niềm vui của thế gian nào có thể so sánh được! Và dĩ nhiên là khi vào các tầng định cao hơn thì niềm an lạc càng lớn, cho đến độ có thể nhầm lẫn đó là Niết-bàn. Chính vì vậy mà khi Phật còn tại thế, dù đạt được Cửu định, nhưng Ngài chưa bao giờ khuyến khích chúng đệ tử phải đạt đến định Tứ Không hay Diệt thọ tưởng định và Phật dạy rất rõ Chánh định trong Bát chánh đạo phải là định của bốn tầng thiền na từ Sơ thiền cho đến Tứ thiền.

 

Hễ có ăn thì có no, có hành thiền thì sẽ đắc thiền. Nếu ăn vội vã nhai không kỷ thì sẽ hại dạ dày, thậm chí còn bị “nghẹn”, hành thiền mà vội vã sẽ có tác dụng ngược lại.

 

Trên đây vừa sơ lược qua tám chi phần của Bát chánh đạo. Vậy nên tu tập chi phần nào trước? Dĩ nhiên rằng tu tập chi phần thuộc về giới hay định trước cũng được bởi vì trong mỗi chi phần đều có mặt của 7 chi phần còn lại, nhưng phương pháp logic nhất vẫn là bắt đầu từ Chánh kiến. Đức Phật là bậc trí tuệ siêu phàm, không phải ngẫu nhiên mà Ngài đưa Chánh kiến lên hàng đầu. Muốn có Chánh kiến thì phải rõ biết Tứ đế, một thiện pháp bao trùm muôn pháp và cũng có thể phá trừ vô minh như lời Phật đã dạy trong Tương ưng bộ kinh. Tuy ở giai đoạn mới hành trì, hành giả hiểu Tứ đế còn cạn cợt, không giống như cái hiểu của các bậc Thánh, nhưng cũng đủ sức để hành giả có cái nhìn đúng đắn về các thiện pháp và bất thiện pháp. Từ đó dễ dàng cho hành giả thực hành Chánh tư duy. Khi có Chánh tư duy thì càng dễ dàng để tu tập Chánh ngữ, Chánh nghiệp và Chánh mạng (nhóm giới). Khi giới hạnh đã đầy đủ, cùng với công phu tu tập thì chắc chắn sẽ đạt Chánh niệm và Chánh định. Khi Chánh định đầy đủ thì tuệ sẽ phát sinh, có đầy đủ Tam minh để  vượt ra khỏi tam giới.

 

Khi Phật còn tại thế chỉ cần qua một bài pháp thoại, hàng loạt người tại gia đã chứng Sơ quả. Tại sao vậy? vì họ đã mở được con mắt pháp, có được Chánh kiến nên họ đoạn trừ được ba kiết sử đầu tiên là thân kiến, nghi và giới cấm thủ. Đó cũng chính là lý do nên bắt đầu tu tập Bát chánh đạo khởi đầu từ Chánh kiến.

 

Ngược lại nếu hành giả bắt đầu tu tập từ nhóm giới, tức là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng thì sẽ gặp trở ngại là khó giữ gìn giới hạnh, bởi lẽ hành giả còn mơ hồ về thiện pháp và bất thiện pháp, có khi mình phạm giới mà không biết!

 

Nếu hành giả bắt đầu tu tập từ nhóm định, tức là Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định thì sẽ gặp rào cản là khó vào định bởi vì hành giả chưa ly dục và ly bất thiện pháp. Nếu hành giả vẫn còn tâm dục mà vào được định thì chỉ trở thành dân ma mà thôi, giống như trong kinh Lăng nghiêm Phật dạy: “Nếu không đoạn lòng dâm mà tu thiền định, thì cũng như nấu cát, nấu đá muốn cho thành cơm, dầu trãi qua trăm nghìn kiếp cũng chỉ gọi là cát nóng, đá nóng. Nếu không đoạn lòng sát mà tu thiền định, thì cũng ví như có người tự bịt lỗ tai, cất tiếng kêu to mà trông mong người khác không nghe. Nếu không đoạn long thâu-đạo mà tu thiền định, thì cũng như người lấy nước rót vào chén thủng, mong cho đầy chén, dầu trải qua kiếp số như vi trần, rốt cuộc không thể đầy được.”

 

Ngoài ra, Phật cũng dạy rằng khi có được Chánh kiến thì sẽ có, sẽ sinh khởi được Chánh tư duy, Chánh ngữ… và các chi phần còn lại của Bát chánh đạo, giống như một tiến trình tự nhiên cái này có thì cái kia có, cái này sanh thì cái kia sanh:

“Từ chánh tri kiến, này các Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Từ chánh tư duy, có chánh ngữ. Từ chánh ngữ, có chánh nghiệp. Từ chánh nghiệp, có chánh mạng. Từ chánh mạng, có chánh tinh tấn. Từ chánh tinh tấn, có chánh niệm. Từ chánh niệm, có chánh định. Từ chánh định, có chánh trí. Từ chánh trí, có chánh giải thoát”. (Phẩm Ði Xuống, Tăng chi bộ kinh, ĐTKVN, tr.924)

“Với người chánh kiến, này các Tỷ-kheo, có chánh tư duy. Với người chánh tư duy, có chánh ngữ. Với người chánh ngữ, có chánh nghiệp. Với người chánh nghiệp, có chánh mạng. Với người chánh mạng, có chánh tinh tấn. Với người chánh tinh tấn, có chánh niệm. Với người chánh niệm, có chánh định. Với người chánh định, có chánh trí. Với người chánh trí, có chánh giải thoát.”  (Phẩm Sa Môn Tưởng, Tăng chi bộ kinh, ĐTKVN, tr.914)

 

Trong Bát chánh đạo, tuy Đức Phật không nhắc đến từ bi, nhưng từ bi vẫn luôn có mặt trong Bát chánh đạo. Ví dụ, Diệt đế là một phần trong Chánh kiến, là diệt trừ tham sân si, là trạng thái Niết-bàn, cũng có ẩn hiện bóng dáng của sự từ bi bởi vì chỉ có lòng từ bi mới diệt trừ được sân hận; cũng vậy, trong Chánh tư duy là tư duy về vô sân, tư duy về bất hại, chỉ có lòng từ bi mới làm được điều này...Nên nhớ rằng cây trí tuệ chỉ sống được nên mảnh đất từ bi và chỉ có đất từ bi mới sanh trưởng các thiện pháp. Cho nên để tu tập Bát chánh đạo viên mãn thì phải tu tập tâm từ nói riêng và tu tập tứ vô lượng tâm nói chung.

 

 

 

                  Nói tóm lại, con đường Bát chánh đạo là một quá trình logic và hợp lý. Ai tu theo con đường Bát chánh đạo sẽ có năng lực tiến đến quả Thánh. Mọi người đều có Phật tánh thanh tịnh, chỉ cần rèn luyện, bền bỉ, kiên trì đều đặn thì sớm muộn gì cũng được thành tựu viên mãn.

 

Khởi đầu sự tu tập từ Chánh kiến là phương pháp logic nhất, đúng theo tiến trình dạy của Phật, có thể mở ngay con mắt pháp và phá được ba kiết sử đầu tiên trong 10 kiết sử. Muốn tu Chánh kiến thì phải học kinh Phật để biết rõ về Tứ đế, suy tư  về Tứ đế và tu tập Tứ đế.

 

Người học Phật mà không đọc kinh Phật, không thực hành Bát chánh đạo thì sẽ bị thua thiệt lớn. Thử hỏi, Đức Phật ròng rã 49 năm thuyết pháp là vì ai? Phải chăng vì muốn giúp cho chúng sanh mở con mắt pháp, nếu nói theo ngôn ngữ của Pháp hoa là giúp chúng sanh ngộ nhập tri kiến Phật. Lại thử hỏi, nhiều lần các vị Tổ sư đã dày công kết tập kinh điển là vì ai? Phải chăng vì muốn lưu truyền mạng mạch của Phật pháp; các vị mạnh thường quân đã in ấn và truyền bá kinh điển cho đến ngày hôm nay là vì ai? Nếu người tu Phật mà lại không đọc kinh Phật, không thực hành Bát chánh đạo thì sẽ làm mai một gia tài giáo lý mà Đức Bổn Sư đã cống hiến cho nhân loại.

 

Ngày nay, tuy Phật đã nhập diệt nhưng Chánh pháp của Ngài vẫn còn đó. Khi nào vẫn còn những người xuất gia tu học và thực tập Bát chánh đạo của Phật, đi theo con đường của Phật đã đi, thì khi ấy vẫn còn là thời kỳ Chánh pháp. Nếu ai nhìn Đức Từ Phụ qua thân tướng của Thái-tử Tất-đạt-đa, thì thấy Đức Phật có Đản sanh, có Thành đạo, có Niết-bàn, có thời kỳ Chánh pháp, có thời kỳ Mạt pháp. Nếu ai nhìn Đức Từ Phụ qua pháp thân thanh tịnh, thì thấy Đức Phật không có sanh, không có diệt, không có thời kỳ Chánh pháp, cũng không có thời kỳ Mạt pháp. Hễ bất cứ nơi đâu, có người tu học và thực tập Bát chánh đạo thì ở nơi ấy vẫn là thời kỳ Chánh pháp. Hạnh nguyện của Đức Từ Phụ là muốn cho chúng sanh thành Phật giống như Ngài. Hiện nay chúng sanh vẫn chưa thành Phật, lẽ nào Đức Từ Phụ lại ra đi bỏ chúng sanh. Pháp thân Phật vẫn còn ở đâu đó, bên cạnh những nơi mà có người hành trì Bát chánh đạo để gia hộ cho những con người ấy.

 

Nếu có ăn thì có no, có tu thì có chứng; nếu có tu tập Bát chánh đạo, có đi theo con đường của Đức Bổn Sư đã từng đi, nhất định sẽ thành Phật.

 

Các bài khác
Design by NINA Co., Ltd