PL 2561
Thiền viện Toàn Giác - Thôn Đoàn Kết, Xã Giang Điền, Huyện Trảng Bom, Tỉnh Đồng Nai - ĐT: 0918068719
Mới cập nhật: Hình ảnh lễ Giỗ lần thứ 34 của Sư Ông Thiện Tường tại Tổ Đình Giác Nguyên -
Lời Phật Dạy
Lời Phât dạy - Kinh Trung Bộ số 131
-- Xem tiếp --
Lời Phật Dạy
Lời Phật dạy - Kinh Pháp Cú số 183
-- Xem tiếp --
Video Clip
-- Xem tiếp --
Chi tiết tin

Ý nghĩa xuân Di-lặc

 

 

 

               Ngày mồng một tết Nguyên đán hàng năm là ngày đầu xuân mà thói quen người ta hay gọi là xuân Di-lặc. Trong ngày đầu xuân này, con người thường cầu phước cầu an, mong phúc lộc đầy nhà, gia đình yên vui, con cháu sum vầy hạnh phúc, lo buồn gác lại, mong được tự tại an nhiên trong cuộc sống. Nhiều người không phải là tín đồ Phật giáo lấy làm lạ, không hiểu tại sao lại có một mùa xuân mang tên của một vị Bồ-tát. Phải chăng để mở đầu cho một mùa xuân, một năm mới với ước nguyện được nương nhờ vào uy đức và đạo hạnh của một bậc Giác ngộ mà tu học theo chánh pháp, đem đạo pháp mà hoà nhập vào đời sống hằng ngày. Tại sao xuân lại mang tên Bồ-tát có hiệu là Di-lặc mà không phải là các vị Bồ-tát khác? Xuân Di-lặc mang ý nghĩa gì? Tìm hiểu về những thắc mắc đó chính là nội dung của bài viết dưới đây.

 

I. Tìm hiểu về Bồ-tát Di-lặc

                  Di-lặc (Hán cổ. 彌勒, Sanskrit. Maitreya, Pali. Metteyya) là cách phiên âm, dịch nghĩa là Từ Thị tức là lòng từ bi rộng lớn, đem đến nguồn an lạc cho chúng sanh. Di-lặc là vị Phật tương lai sẽ xuất hiện trên trái đất, kế tiếp Đức Phật lịch sử Thích-ca. Phật Di-lặc được Phật Thích-ca nhắc đến trong các kinh điển từ Nguyên thủy cho đến Đại thừa.

 

Trong Kinh Chuyển Luân Thánh Vương, bài kinh số 26 của Kinh Trường bộ, ghi chép rằng vào một thời kia, Đức Phật Thích-ca trú gần thành Ma-du-la (Matulà), nước Ma-kiệt-đà (Magadha), cùng với chư Tỳ-kheo. Trong lúc Thế-Tôn dạy cho các Tỳ-kheo, hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy chánh pháp làm ngọn đèn, lấy chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác thì nhân đó, đức Phật giảng Kinh Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống nầy, kể lại sự tích các vị Vua Chuyển Luân Thánh Vương đã cai trị theo chánh pháp, chẳng hề dùng dao, gậy, kiếm, mà quốc độ được hùng cường, nhân dân được an cư lạc nghiệp. Phật Thích-ca thọ ký rằng: “Này các Tỷ kheo, khi tuổi thọ loài người lên đến tám vạn tuổi, có Thế Tôn tên là Metteyya Từ Thị sẽ ra đời, là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật Thế Tôn như Ta nay sanh ra ở đời này. Vị này sẽ thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa lý văn tự đầy đủ và tuyên thuyết đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh như Ta hiện nay. Vị này sẽ có khoảng vài ngàn vị Tỷ kheo Tăng đoàn; như Ta hiện nay có khoảng vài trăm vị Tỷ kheo Tăng đoàn vậy.” (Trường bộ kinh, tr.346)

 

Trong kinh Trường A hàm cũng có đoạn sau: “Lúc nhân loại sống tám vạn tuổi, con gái đến năm trăm tuổi mới gả chồng, và có chín thứ bịnh là lạnh, nóng, đói, khát, đại tiện, tiểu tiện, tham dục, ham ăn và già nua. Cõi đất lúc ấy bằng phẳng không có rạch hầm, gò móng gai gốc, cũng không mòng muỗi, rắn rết, trùng độc. Ngói, đá, cát, gạch thì biến thành lưu ly. Nhân dân sung túc, ngũ cốc rẽ thường, giàu vui không xiết tả. Có tám vạn thành lớn được dựng lên, thôn thành san sát gần nhau, gà gáy cùng nghe được. Vào thời kỳ ấy thì có đức Phật ra đời hiệu là Di-lặc Như Lai, Chí chân, Đẳng chánh giác, mười hiệu đầy đủ, như đức Thích-ca Như Lai ngày nay không khác. Đức Di-lặc có chúng đệ tử vô số ngàn vạn, như Ta ngày nay có đệ tử vài trăm. Nhân dân lúc ấy gọi đệ tử ngài là Từ tử như gọi đệ tử ta nay là Thích tử”. (Kinh Trường A Hàm, tr.601-603)

 

Trong kinh Di-lặc hạ sanh, thuộc Đại Chánh Tân Tu, Bộ Kinh Tập, số 0454, Hán dịch đời Dao Tần, Tam tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập, Thích Trung Quán dịch Việt, có đoạn viết rằng: “Bồ-tát Di-lặc đản sanh làm con của 2 vị Bà-la-môn tên Diệu Phạm và Phạm-ma-ba-đề trong thành thành Sí-đầu-mạc. Ngài có thân màu vàng ròng, 32 tướng tốt, chúng sanh trông thấy nhìn mãi không nhàm, thần lực vô lượng không thể nghĩ bàn, hào quang tỏa chiếu xuyên suốt tất cả, phủ mờ hết ánh sáng của mặt trăng, mặt trời và hỏa châu”.

 

Như vậy, trong cả kinh Nguyên thủy lẫn Đại thừa đều khẳng định rằng Di-lặc là vị Phật sẽ xuất hiện trên trái đất, kế tiếp Đức Phật lịch sử Thích-ca, đạt được giác ngộ hoàn toàn, giảng dạy Phật pháp, giáo hóa chúng sinh, và chứng ngộ thành Phật. Phật Di-lặc được tiên tri sẽ đản sinh khi tuổi thọ của con người là khoảng 80.000 năm, khi Phật pháp đã hoàn toàn bị loài người lãng quên.

 

 

Thời kỳ Phật giáo Bộ Phái, có thuyết cho rằng, chính Bồ-tát Di-lặc là người khởi xướng hệ phái Duy thức của Đại thừa. Một số học giả cho rằng, vị này chính là thầy truyền giáo lý Duy thức cho ngài Vô Trước (Sa. Asaṅga).

 

Phật giáo Tây Tạng lại cho rằng, Bồ-tát Di-lặc là tác giả của năm bài luận, được gọi là Di-lặc ngũ luận:

(1). Đại thừa tối thượng luận hoặc Cứu cánh nhất thừa bảo tính luận (Sa. mahāyānottaratantra)

(2).  Pháp pháp tính phân biệt luận (Sa. dharmadharmatāvibaṅga)

(3).  Trung biên phân biệt luận (Sa. madhyāntavibhāga-śāstra)

(4).  Hiện quán trang nghiêm luận (Sa. abhisamayālaṅkāra)

(5).  Đại thừa kinh trang nghiêm luận (Sa. mahāyānasūtralaṅkāra)

 

Truyền thống Phật giáo Trung Hoa thì cho rằng vào thế kỷ thứ 10, triều Ngũ Đại Hậu Lương, có Bố Đại Hòa Thượng ở đất Minh Châu, huyện Phụng Hóa (vùng Chiết Giang Trung Hoa ngày nay) là hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Ngài thường mang cái đãy bằng vải, đi khắp chợ búa xóm làng, ai cho gì cũng bỏ hết vào đãy mang đi. Ngài thường giảng kinh cho người nghèo, làm nhiều điều mầu nhiệm, lạ thường nhằm hóa độ chúng sanh.

 

Bồ-tát Di-lặc là một vị Phật đương lai, dĩ nhiên là có đầy đủ 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp như những vị Phật khác, nhưng tùy theo truyền thống tín ngưỡng và văn hóa của từng quốc gia mà hình tượng của Ngài cũng có sự khác nhau. Ở các nước như Ấn độ, Népal, Thái lan, Tây tạng, tượng của Bồ-tát Di-lặc ít khi ngồi trên tòa sen mà Ngài thường ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hóa chúng sinh. Ở Việt Nam và Trung quốc, Bồ-tát Di-lặc được trình bày với tướng mập tròn, vui vẻ, trẻ con quấn quýt xung quanh, có thể đó chính là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng ở thế kỉ thứ 10, mà Phật giáo Trung Hoa cho rằng ngài là một hóa thân của Bồ-tát Di-lặc.

 

II. Ý nghĩa xuân Di-lặc

1. Mang ý nghĩa của mùa "Xuân từ bi”

Từ bi là yếu tố không thể thiếu được của người tu Phật và dường như nói đến đạo Phật là người ta nghĩ ngay đến hai chữ từ bi. Ở Bồ-tát sơ phát tâm thì lòng từ bi còn hạn hẹp nhưng ở các vị đại Bồ-tát như Bồ-tát Quán-âm, Bồ-tát Địa-tạng… thì lòng từ bi vô lượng vô biên, cho đến chư Phật thì lòng từ bi không thể nghĩ bàn. Vậy tại sao mùa "Xuân từ bi” lại không mang tên các vị Bồ-tát khác mà lại mang tên của Bồ-tát Di-lặc? Như giải thích ở phần trên, Di-lặc dịch nghĩa là Từ Thị, tức là lòng từ bi rộng lớn, đem đến nguồn an lạc cho chúng sanh.

 

Chúng ta đều biết rằng, ngày đầu xuân là ngày báo hiệu sự thanh khí của đất trời, với biết bao hình ảnh xinh đẹp, tươi mát, tràn đầy nhựa sống của muôn loài và cây cỏ. Mọi người đều mong ước một năm mới an khang, hạnh phúc, hòa bình, đầy nhân ái. Tuy nhiên, khi xã hội càng văn minh hiện đại, thì đạo đức con người ngày càng suy thối bởi lối sống hưởng thụ, lối sống vật chất, lối sống hình thức nên lòng từ bi giảm dần. Nếu tâm từ không được phát sinh thì đồng nghĩa rằng tự chúng ta đã đưa mình vào thế giới của sự lo lắng, bất an và ích kỷ. Đa số những xung đột trong xã hội hay chiến tranh xảy ra đều xuất phát từ lòng tham, sân. Chỉ có lòng từ bi mới mang đến cho muôn loài sự hòa bình, an lạc. Cho nên, nếu như mùa xuân mà thiếu đi lòng từ bi thì mùa xuân ấy sẽ mang lại nhiều bất hạnh cho con người và càng trở nên vô nghĩa. Chính vì vậy mà mùa xuân được mang tên của Bồ-tát Di-lặc. Ngay trong hai từ Di-lặc, chúng ta đã thấy được tràn đầy ánh sáng của sự từ bi.

 

2. Mang ý nghĩa của "Xuân Hoan Hỷ".

Hoan hỷ là chấp nhận và bằng lòng với mọi việc xảy đến, với mọi biến cố xảy ra, với mọi sự thay đổi, với mọi sóng gió, khó khăn ở đời... Những ai biết chấp nhận và luôn bằng lòng với những thực tại đang xảy ra trong cuộc sống thì tâm họ luôn cảm nhận được niềm hỷ lạc và không còn lo lắng, buồn phiền, sợ hãi hoặc đau khổ nữa.

 

Chúng ta được biết, hình ảnh của đức Di-lặc được thờ trong các chùa ở Việt Nam, trông rất khỏe mạnh, mập mạp, và gương mặt luôn luôn tươi cười một cách hoan hỷ. Ngài là vị Phật đương lai tượng trưng cho hạnh hoan hỷ, vui vẻ, bao dung và tha thứ. Nếu như, niềm ước nguyện đầu xuân mà bất cứ ai sống trên trái đất này, dù là tín đồ của bất kỳ tôn giáo nào cũng đều mong ước một mùa xuân hoan hỷ, an lạc và cát tường; thì chính Bồ-tát Di-lặc là sự hiện thân của tất cả những gì tốt đẹp, viên mãn và hoan hỷ nhất mà con người đã từng mong ước. Trong bối cảnh của ngày xuân tràn đầy sự yêu thương, Bồ-tát Di-lặc đến với chúng ta với nụ cười vui tươi mang thông điệp của sự may mắn cho tất cả mọi người.

 

3. Mang ý nghĩa của "Xuân tinh tấn".

Đối với những người con Phật, ngày xuân Di-lặc còn mang một ý nghĩa trọng đại, đó là sự tinh tấn tu học, quyết tâm chuyển hóa tâm trí, từ một phàm phu với đầy dẫy những phiền não và mê mờ của ngày hôm nay, trở thành một bậc giác ngộ và giải thoát trong tương lai.

 

Vì vậy, người con Phật trước thềm năm mới, ngoài việc vui đón xuân mới thông thường còn phải nỗ lực tu học, chuyển hoá tự thân để luôn từ bi, hoan hỷ, tha thứ và bao dung như Ngài. Được như vậy, chúng ta sống trên cõi đời này sẽ cảm thấy cuộc sống tràn đầy ý nghĩa, nơi đây chính là cõi an lành tự tại, là một thế giới đầy tình thương yêu, đầm ấm, chính là cảnh giới của chư Phật, chư hiền thánh nhân.

 

Như vậy, xuân Di-lặc hàm chứa ý nghĩa từ bi, hoan hỷ với hy vọng được vạn sự kiết tường, vạn sự như ý trong năm mới. Với người con Phật, xuân Di-lặc còn mang ý nghĩa là mùa xuân tinh tấn tu tập để thành tựu đạo nghiệp.

 

Thông qua lễ tết cổ truyền, chúng ta phát huy được nét đẹp của Phật giáo trong đời sống văn hóa con người. Đạo Phật đi vào đời mang đến lợi ích cho con người, từ nhu cầu và căn cơ của con người mà mở bày phương pháp tu tập. Chỉ có đạo lý từ bi, hỷ xả mới hướng con người sống đời an lạc, hòa bình. Cho nên hình ảnh Phật Di-lặc trong mùa xuân là thông điệp từ bi và giải thoát đến với con người trong mọi thời đại. Như vậy, ý nghĩa đón mừng xuân Di-lặc là sống theo nếp sống hướng thượng, đặc biệt là hướng đến mục tiêu giải thoát khổ đau giữa cuộc đời đầy biến động này. Đó cũng là con đường sống của Phật giáo từ xưa đến nay đều hướng đến. Nói một cách cụ thể hơn là mỗi cá nhân hiện hữu ở đời phải biết thực thi nếp sống đạo.

 

III. Áp dụng trong tu tập

1. Tu tập tứ vô lượng tâm

Xuân Di-lặc chính là xuân từ bi, một mùa xuân được khởi đầu bằng hai chữ từ bi là hai hạnh đầu tiên trong tứ vô lượng tâm “từ bi hỷ xả" và từ bi cũng là một trong những cửa ngõ quan trọng đi đến đại giác. Vì vậy, xuân Di-lặc nhắc nhở người con Phật phải biết tu tập tâm từ bi nói riêng và tứ vô lượng tâm nói chung để làm nền tảng vững chắc cho sự phát triển tuệ giác.

 

Tâm Từ là tâm thương yêu vô bờ bến đối với tất cả chúng sinh, vạn vật. Tâm từ là tình thương không có sự phân biệt đối với những người thân hay sơ, tốt hay xấu, sang hay hèn...Người thực hiện từ tâm đến mức độ cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất.

Trong bài kinh Từ Bi của kinh Tiểu Bộ thuộc hệ Nikaya, Phật dạy phải thương muôn loài chúng sanh giống như người mẹ hiền thương đứa con độc nhất mà mình sinh ra.

 

Tâm Bi là lòng thương xót, cảm thông vô hạn trước sự đau khổ của kẻ khác, với hy vọng sẽ giúp chúng sinh thoát khỏi đau khổ. Cần phải chú ý rằng tâm Bi không phải là những giọt nước mắt nhỏ suông mà gọi là thương xót. Khi cảm nhận được những nỗi đớn đau của kẻ khác, người có tâm bi cảm thấy lòng quặn đau trước tình cảnh trái ngang của người bất hạnh và sẵn sàng chia sẻ những đau khổ đó.

 

Tâm Hỷ là tâm hoan hỷ, vui thích với hạnh phúc của người khác, mừng vui trước sự thành công của người khác. Người có tâm hỷ không bao giờ biết đố kỵ, so bì, khi thấy kẻ khác hơn mình, nên Hỷ cũng có nghĩa là bao dung. Nói cách khác là Hỷ phải là một trạng thái của tâm hoàn toàn thanh tịnh, phát ra từ chỗ không vị ngã, lấy cái vui của tha nhân làm cái vui cho ta mà hoàn toàn không có ý mong cầu bất cứ lợi lộc gì trở lại cho ta.

 

Tâm Xả là lòng buông xả, không dính mắc vào bắt cứ điều gì, buông xả trước mọi thành tựu của bản thân, bình thản trước sự coi thường, phỉ báng, của người khác.Tâm Xả là loại tâm không có ranh giới giữa mình và người, không có ranh giới ân và thù, không chấp thủ điều tốt lẫn điều xấu, buông tất cả mọi ý niệm phân biệt. Người tu hành phải tập xả dần và xả tất cả.

 

Tứ vô lượng tâm là con đường thực hành đưa đến tự lợi, lợi tha và cũng là con đường căn bản để phát triển trí tuệ. Như vậy, làm thế nào để thực hành Tứ tâm vô lượng tâm? Có nhiều phương pháp, tùy theo căn cơ của từng người. Trong phạm vi bài viết này, người viết xin mạo muội giới thiệu ba phương pháp thực hành tứ vô lượng tâm.

 

1.1. Hành thiền

(1). Thực hành thiền chỉ (thiền định) với đề mục là hơi thở

Hơi thở là nguồn mạch của sự sống. Chính Đức Phật Thích Ca đã lấy hơi thở làm đề mục thiền định. Theo Trung bộ Kinh, thì trong đêm thứ 49, từ định của Tứ thiền, Ngài bắt đầu quán chiếu để thành tựu tam minh và trở thành Phật Chánh Đẳng Chánh Giác. Do vậy, hơi thở chính là tài sản vô giá mà tất cả chúng ta ai ai cũng đều có.

 

Tu tập theo thiền nguyên thủy (Như Lai thiền) bắt buộc phải đoạn trừ năm triền cái là tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi để thành tựu năm thiền chi. Ngay trong giai đoạn đầu của việc đoạn trừ hai triền cái là tham và sân đã giúp cho hành giả tu tập dễ dàng hạnh từ bi trong tứ vô lượng tâm rồi, huống chi khi đã đoạn trừ hết năm triền cái thành tựu được năm thiền chi, thì việc tu tập tứ vô lượng tâm lại càng dễ dàng hơn.

 

Nếu trong lúc tọa thiền, hành giả lấy hơi thở làm đề mục, hướng tâm vào hơi thở, chỉ là hơi thở mà thôi, hoàn toàn không có tạp niệm xen vào thì hành giả sẽ dễ dàng thành tựu được hai thiền chi đầu của thiền nguyên thủy là Tầm và Tứ. Sau khi đạt Tầm và Tứ, lập tức chi thứ ba là Hỷ sẽ phát sinh, hành giả sẽ cảm thấy niềm vui, niềm an lạc của việc hành thiền. Một khi tâm Hỷ đã phát sinh thì hành giả rất dễ dàng tu tập hạnh hỷ trong tứ vô lượng tâm bởi lẽ do tâm của hành giả lúc nào cũng an lạc nên thường mừng vui trước sự thành công của người khác.

 

Nếu hành giả vẫn tiếp tục an trụ tâm ngay trong từng sát na hiện tại để theo dõi hơi thở, hành giả sẽ đoạn trừ được các phần còn lại của triền cái và thành tựu được thiền chi thứ tư là Lạc. Lúc bấy giờ thân tâm hành giả đều an lạc - một niềm an vui tự tại xuất phát từ tâm an tịnh -  nên hạnh hỷ trong tứ vô lượng tâm lại càng được trưởng dưỡng.

 

Tiếp tục công phu, an trụ tâm trong ngay trong từng sát na hiện tại để theo dõi hơi thở, hành giả sẽ đạt được thiền chi cuối cùng là Nhất tâm, để chuẩn bị bước vào các tầng định. Từ sơ thiền muốn đạt nhị thiền, hành giả phải tập buông xả hai thiền chi Tầm và Tứ; từ nhị thiền muốn đạt tam thiền, hành giả phải tập buông xả thiền chi Hỷ; từ tam thiền muốn đạt tứ thiền, hành giả phải tập buông xả thiền chi Lạc. Do thực tập buông xả trong công phu thiền mà hành giả dễ dàng thực tập hạnh Xả trong tứ vô lượng tâm. Hơn nữa, do đạt được định nên hành giả phát sanh tuệ giác, hiểu càng lúc càng rõ ràng tam pháp ấn, lý tứ đế, ngũ uẩn nên càng dễ dàng thực hành tứ vô lượng tâm. Cứ như thế tứ vô lượng tâm của hành giả sẽ tăng trưởng dần theo các cấp độ của các tầng định từ cận định đến cho đến định của sơ, nhị, tam, tứ thiền.

 

(2). Thực hành tứ niệm xứ

Tứ niệm xứ là bốn phép quán cơ bản về sự tỉnh giác. Cần nhớ là trong tất cả bốn lãnh vực quán niệm (thân, thọ, tâm, pháp) hành giả phải lấy chánh niệm làm đầu, và chỉ giữ chánh niệm mà thôi, có nghĩa là giác tĩnh quan sát và ghi nhận một cách khách quan.

 

Quán Thân bao gồm sự tĩnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào, cũng như tĩnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tĩnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân thể cũng như quán tử thi.

 

Quán Thọ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính.

 

Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).

 

Quán Pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã, biết rõ Ngũ chướng (năm triền cái) có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Tứ diệu đế.

Do kiểm soát được bốn lãnh vực thân, thọ, tâm, pháp, đặc biệt là kiểm soát tâm, đồng thời hướng tâm về trụ nơi tứ vô lượng tâm nên hành giả dễ dàng thành tựu hạnh tứ vô lượng tâm.

 

(3). Thực hành từ bi quán

Hành giả phải dùng ánh mắt thương yêu để nhìn tất cả mọi người, dù người đó là thân hay sơ, bạn hay thù, sang hay hèn, thậm chí còn thương cả những loài nhỏ bé như con trùng, con kiến, vô cớ không được giết hại chúng. Đoạn kinh dưới đây trích trong kinh Từ Bi của kinh Tiểu Bộ thuộc hệ Nikaya do Cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Minh Châu dịch Việt được xem như là bài quán từ bi của người con Phật:

 

Mong mọi loài chúng sanh,

Được an lạc, an ổn,

Mong tất cả những ai,

Hữu tình có mạng sống,

Kẻ yếu hay kẻ mạnh,

Không bỏ sót một ai,

Kẻ dài hay kẻ lớn,

Trung thấp, loài lớn, nhỏ.

Loài được thấy, không thấy,

Loài sống xa, không xa,

Các loài hiện đang sống,

Các loài sẽ được sanh,

Mong mọi loài chúng sanh,

Sống hạnh phúc an lạc.

Như tấm lòng người mẹ,

Đối với con của mình,

Trọn đời lo che chở,

Con độc nhất mình sanh.

Cũng vậy, đối tất cả

Các hữu tình chúng sanh,

Hãy tu tập tâm ý,

Không hạn lượng, rộng lớn.

Khi đứng hay khi ngồi,

Khi ngồi hay khi nằm,

Lâu cho đến khi nào,

Khi đang còn tĩnh thức,

Hãy an trú niệm này…

 

Khi đã có lòng từ bi xem các loài chúng sanh như đứa con độc nhất mình sinh ra, thì hành giả rất dễ dàng tu tập hạnh hỷ, bởi lẽ mẹ hiền luôn luôn mừng vui trước sự thành công của con mình. Người thực hiện từ tâm từ bi đến mức độ cùng tột sẽ thấy mình đồng hóa với tất cả chúng sinh, không còn sự khác biệt giữa mình và người. Cái gọi là “ta” không còn nữa. Mọi sự chia rẽ đều biến mất như đám sương mù tan trong nắng sáng. Vạn vật trở thành một, đồng thể, đồng nhất vì vậy mà cũng dễ dàng tu tập hạnh xả.

 

1.2. Lễ Phật

Phật là Đấng giác ngộ hoàn toàn với tâm đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả không thể nghĩ bàn. Nếu ai muốn tu tập tứ vô lượng tâm thì việc lễ Phật là con đường thực hành thù thắng nhất. Chúng ta lễ Phật không vì mong cầu ban ân bố đức, mà lễ Phật là để tập sống với đức tính vị tha và bao dung của Phật. Lễ Phật mà quán thấu “năng lễ, sở lễ” đều không, tịch tịnh, đạt đến độ “giao cảm không thể nghĩ bàn” với chư Phật thì chắc chắn sẽ thành tựu tứ vô lượng tâm một cách dễ dàng.

 

Hành giả có thể lễ chư Phật từ quá khứ đến vị lai như từ Phật Tỳ-bà-thi cho đến Phật Di-lặc, hoặc lễ Hồng Danh Phật, hoặc chỉ đơn lẽ một vị Phật như Phật Thích-ca, Phật A-di-đà, Phật Dược-sư… thậm chí các vị Bồ-tát như Quan-thế-âm, Địa-tạng…cũng đều có thể tu tập tứ vô lượng tâm. Cứ mỗi một lạy, hành giả nên nguyện thầm rằng con xin học theo hạnh tứ vô lượng tâm của Ngài và khi thành tựu được tứ vô lượng tâm, con sẽ hóa độ chúng sanh. Một lạy Phật sẽ gieo vào tâm thức hành giả một chủng tử của tứ vô lượng tâm và được lưu giữ lại trong A-lại-da thức của hành giả. Cứ như thế tứ vô lượng tâm của hành giả sẽ tăng trưởng một cách nhanh chóng bởi vì bên trong nội thân hành giả có tu tập, bên ngoài lại được sự gia hộ của chư Phật, chẳng khác nào “nội công ngoại kích” thì lo gì mà không thành tựu!

 

Lễ Phật không cần phải đếm số lượng cho được nhiều, mà cần phải có chất lượng của mỗi một lần lễ lạy, tức là chúng ta có quán chiếu nội tâm, có triệt tiêu bản ngã, có chuyển hóa nghiệp lực của mình và có thực hành được tứ vô lượng tâm giống chư Phật hay không. Khi tiến hành các động tác lễ Phật, ta phải thành kính, nhiếp niệm, thong thả, mắt nhìn vào tượng Phật, Bồ-tát hay từng chữ của Kinh, hoặc để tâm vắng lặng, giúp cho Tâm được an tịnh. Nên lễ Phật một cách chậm rãi để có đủ thời gian nghĩ nhớ đến phát nguyện học theo hạnh của chư Phật, huân tập tứ vô lượng tâm phát ra từ chư Phật vào trong tâm thức của mình và có được sự trang nghiêm trong lúc hành lễ. Nên thực hành lễ Phật một cách đều đặn trong các thời khóa công phu hằng ngày, không gián đoạn, tinh tấn hành trì, hành giả sẽ tận hưởng những năng lượng của chư Phật, chư Bồ Tát truyền cho, tất nhiên sẽ cảm nhận được niềm an lạc và đạt được tứ vô lượng tâm như sở cầu. 

 

1.3. Trì chú

Công năng, và oai lực của thần chú Đại Bi được gắn liền với hạnh nguyện của Bồ-tát Quan-thế-âm mà đại từ bi là một trong những hạnh nguyện điển hình. Khi trì tụng chú Đại Bi phải tinh tấn và chí thành, cung kính, giữ đúng lễ nghi. Bất cứ một ai khi trì tụng thần chú Đại Bi với tất cả tâm thành, chắc chắn sẽ đạt được đại bi tâm bởi vì oai lực của thần chú là rộng khắp, vô biên, không có gì có thể ngăn ngại nỗi. Trong kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni, Bồ-tát Quan-thế-âm giải thích đại bi tâm chính là tâm bình đẳng, tâm vô vi, tâm chẳng nhiễm trước, tâm cung kính, tâm khiêm nhường, tâm không tạp loạn, tâm không chấp giữ, tâm vô thượng bồ đề.

 

Tuy thần chú là những lời nói nhiệm mầu, bí mật của chư Phật, chư Bồ-tát, ta khó thể lãnh hội được nội dung, ý nghĩa, nhưng điều này không có nghĩa là khi trì tụng chú Đại Bi ta chỉ đọc tụng lên một cách máy móc. Một khi đã biết được công năng và oai lực của chú Đại Bi sẽ giúp hành giả hiểu được tướng mạo của chú Đại Bi, hiểu một cách rõ ràng hơn về đặc tính của đại bi tâm, hành giả niệm tụng với lòng thành kính tin tưởng tuyệt đối, ngồi ngay ngắn, tâm thanh tịnh, không để ý tưởng tán lọan, hành giả sẽ khế ngộ được nguồn tâm, diệu nhập pháp lý. Chân ngôn được phát ra sẽ được hiển bày vào tâm nguyện của hành giả, cũng như nhập vào biển diệu nghĩa, thật là huyền diệu, nhờ vậy mà xuyên suốt và bao trùm lên tất cả là tâm đại từ bi, tức là lòng thương xót và quyết tâm cứu khổ chúng sanh, hành giả sẽ dễ dàng đạt được hạnh từ bi trong tứ vô lượng tâm.

 

Thần lực của Thần Chú Đại Bi như là một phương tiện để định tâm và do khả năng chuyên chở mầu nhiệm của những âm thanh vi diệu này, hoà nhập vào bản thể của chân tâm, hành giả có thể thu nhiếp tâm lớn nhỏ tùy ý. Niềm an lạc khi định tâm sẽ giúp cho hành giả phát sinh niềm hỷ lạc. Từ đó, hành giả dễ dàng tu tập hạnh hỷ trong tứ vô lượng tâm.

 

Khi tâm hành giả đã định, cũng chính nhờ sự mầu nhiệm của những âm thanh vi diệu này, mà tâm hành giả hoà nhập vào bản thể của chân tâm, hành giả đạt được tâm bình đẳng, tâm chẳng nhiễm trước, tâm không chấp giữ. Từ đó, hành giả dễ dàng tu tập hạnh xả trong tứ vô lượng tâm.

 

Như vậy, chúng ta vừa tham khảo qua về ba phương pháp tu tập tứ vô lượng tâm là hành thiền, lễ Phật và trì chú. Mỗi phương pháp đều có diệu dụng riêng, tùy theo căn cơ và hoàn cảnh của mỗi người. Yếu chỉ của sự thành công là phải hành trì đều đặn, tinh tấn, chuyên chú vào đề mục, không để tạp niệm xen vào, chánh niệm tĩnh giác, và dĩ nhiên là tu tập tứ vô lượng tâm không phải chỉ thực hiện trên tọa cụ, bồ đoàn mà phải được thực hành trong suốt thời gian còn tĩnh thức. Được như vậy, hành giả sẽ thành tựu tứ vô lượng tâm y như sở nguyện.

 

2. Thực hành nương tựa nơi chính mình, lấy chánh pháp làm ngọn đèn

Trong Kinh Chuyển Luân Thánh Vương, trước khi tiên tri vị Phật trong tương lai, thì Phật Bổn sư dạy cho các Tỳ-kheo, hãy tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy chánh pháp làm ngọn đèn, lấy chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác. Chính hai quan điểm này có thể được xem là phản ảnh trung thực đời sống tìm đạo, hành đạo, chứng đạo của Phật Bổn sư dựa trên kinh nghiệm bản thân và cũng được nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong suốt 49 năm thuyết pháp, thậm chí cho đến ngày sắp nhập niết bàn, Ngài cũng không quên dặn dò hàng đệ tử phải nương tựa nơi chính mình, lấy chánh pháp làm ngọn đèn.

 

Taị sao trước khi tiên tri vị Phật trong tương lai, thì Phật Thích-ca dạy cho hàng đệ tử hãy tự nương tựa mình, nương tựa Chánh pháp? Phải chăng Ngài muốn cho chúng ta biết rằng giáo pháp của Phật hiện tại hay giáo pháp của Phật đương lai hay giáo pháp của ba đời chư Phật trong khắp mười phương đều không sai khác và những ai biết tự đứng trên đôi chân của mình sẽ chắc chắn nhận được hương vị của sự giải thoát!

 

Chúng ta không đủ phước báu để sống vào thời Phật Bổn sư còn tại thế, lại không biết có đủ phước duyên để sống vào thời Phật Di-lặc đản sanh hay không, nhưng may mắn thay, Giáo pháp của Đức Từ Phụ vẫn còn đó, xuân Di-lặc lại đang đến, dường như nhắc nhở chúng ta hãy tinh tấn tu tập để thành tựu đạo nghiệp, mới đền được ơn chư Phật.

 

Mỗi mùa xuân đến, người chưa học Phật cảm thấy vui vẻ, hân hoan đón mừng xuân mới, nhưng những người đang tu học phải nhận thức rõ rằng chúng ta như càng tiến dần đến cái đích của cửa tử, phải gấp rút tu tập, nếu không sẽ uổng phí một đời tu. Người xuất gia phải luôn luôn ghi nhớ rằng nếu chỉ mới xuất thế tục gia, thậm chí xuất được phiền não gia, nhưng chưa ra khỏi tam giới thì chưa hoàn tất con đường của người xuất gia!

 

 

               Nói tóm lại, xuân Di-lặc mang ý nghĩa của mùa xuân từ bi, hoan hỷ và tinh tấn. Nếu đem áp dụng vào trong tu học, chúng ta sẽ thực tập được tứ vô lượng tâm và nương tựa ngay nơi chính bản thân mình, nương tựa chánh pháp của ba đời chư Phật. Xin đừng chạy theo những thú vui của ngày xuân mà quên đi sự tu học. Học giáo pháp của Phật, chúng ta cần phải thực tập trãi nghiệm thì mới thấy được lợi lạc của sự hành trì. Ngược lại, nếu thiếu sự thực tập thì chúng ta chỉ thưởng thức hương vị của giáo pháp qua cái bánh vẽ trên giấy mà thôi.

 

Sự hưng thịnh và trường tồn của Phật giáo không phải được thể hiện ở chỗ chùa to, tượng Phật lớn, Phật tử đông, lễ hội nhiều… mà chính là ở chỗ Tăng chúng có giới đức hay không, có hành trì giáo pháp mà Phật dạy không, có chứng đắc hay không. Chúng ta đừng quá chạy theo phương tiện vui xuân mà quên đi lời giáo huấn của Phật trong kinh Chuyển Luân Thánh Vương: “hãy sống tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa mình, không nương tựa một ai khác, lấy chánh pháp làm ngọn đèn, lấy chánh pháp làm nơi nương tựa, không nương tựa một gì khác”.

 

Xuân đến rồi xuân sẽ đi. Nhưng với mùa xuân Di-lặc là mùa xuân trường cửu, bền chắc và mùa xuân ấy không chỉ có mặt đến với ta thoáng qua trong một vài ngày, mà mùa xuân ấy sẽ luôn hiện hữu trong ta, trong từng khoảnh khắc, từng ngày, từng giờ, từng tháng, từng năm, trong đời sống hiện tại, và cả kiếp sống mai sau. Xin hãy sống đúng như tinh thần của xuân Di-lặc!

 

Các bài khác
Design by NINA Co., Ltd